Bộ ba máy bay tàng hình Mỹ “bao vây” Trung Quốc

9:46 PM |

(Kiến Thức) - Bộ ba máy bay tàng hình tối tân của Không quân Mỹ sẽ được điều tới các căn cứ "sát nách" Trung Quốc từ nay tới năm 2017. 


B-2 sẽ quay trở lại sau vài năm "vắng bóng".
Quân đội Mỹ đã bắt đầu tổ chức một giai đoạn chuẩn bị kéo dài 5 năm để triển khai 3 loại máy bay tàng hình chủ lực của họ tới các căn cứ quân sự “vây quanh” Trung Quốc. 

Kế hoạch triển khai sẽ hoàn thành vào năm 2017, các máy bay tàng hình F-22 Raptor, F-35 và B-2 Spirit đều có thể có được khả năng sẵn sàng chiến đấu với đối thủ kinh tế lớn nhất của Mỹ ở châu Á.

Đối với Bắc Kinh, họ cũng đang thử nghiệm hai loại máy bay chiến đấu tàng hình khác (gồm J-20 và J-31) nhưng số lượng của chúng sẽ bị giảm ngược khi bị máy bay tàng hình Mỹ “bắn rơi” trên Tây Thái Bình Dương.

Việc triển khai dần dần lực lượng tấn công tàng hình của Mỹ là một phần trong chiến lược dịch chuyển quân sự của Lầu Năm Góc về khu vực Thái Bình Dương. 

Đầu năm 2012, một lực lượng hàng không tương tự đã được Mỹ triển khai tới Vịnh Pécxích. Trong đó, các phi đội tiêm kích đa năng tàng hình F-22, tiêm kích đa năng F-15 và những máy bay chuyển tiếp thông tin Bacon là một kế hoạch rõ ràng để ngăn chặn sức mạnh quân sự Iran, mặc dù Lầu Năm Góc luôn phủ nhận điều đó.

Những thông báo mới về việc triển khai tới Thái Bình Dương các máy bay tàng hình F-22, F-35 và B-2 đã tới như một tiếng trống trong những tuần gần đây. 

Đầu tháng 11, Tư lệnh Lực lượng Không quân số 8 Thiếu tướng Stephen Wilson nói rằng: “Một số lượng nhỏ” những máy bay ném bom nhiều tỷ USD của ông sẽ bắt đầu xoay chuyển tới Thái Bình Dương và các khu vực khác bắt đầu từ năm 2013. Việc xoay vòng sẽ diễn ra “trong một vài tuần và một vài lần trong một năm”. 

Đối với máy bay tàng hình B-2 đã được nâng cấp với radar và hệ thống thông tin mới được lên kế hoạch hiện diện trở lại khu vực Thái Bình Dương. 

Trước đó, đầu năm 2000, các máy bay B-2 thường xuyên được triển khai tới căn cứ không quân Andersen trên đảo Guam, thỉnh thoảng đi kèm theo còn có các máy bay tàng hình F-22. Tuy nhiên, việc điều chuyển về Thái Bình Dương sẽ kéo dài đối với lực lượng nhỏ máy bay B-2. 

Trong năm 2008, một trong số 21 máy bay ném bom B-2 đã bị tai nạn ở căn cứ Andersen. 2 năm sau đó, một chiếc B-2 khác đã bị hư hỏng nghiêm trọng sau khi xảy ra một sự cố cháy động cơ làm máy bay gần như bị phá hủy hoàn toàn.

Không quân Mỹ đã giấu giếm về tai nạn thứ hai đó và lặng lẽ đưa số máy bay này rời khỏi Thái Bình Dương, thay thế vào đó là những chiếc B-52. Sau một thời gian nghỉ ngơi, phi đội máy bay ném bom tàng hình B-2 giờ đây đã sẵn sàng trở lại với thói quen hoạt động ở nước ngoài.

“Chúng tôi đang đẩy mạnh hoạt động của các máy bay B-2 trở lại bình thường”, ông Wilson nói.

Máy bay chiến đấu tàng hình F-22 thông thường được triển khai ở Florida, Virginia, Alaska và đảo Hawaii. F-22 cũng thường xuyên di chuyển tới căn cứ Andersen và ngày càng thường xuyên di chuyển tới căn cứ không quân Kadena ở tỉnh đảo Okinawa (Nhật Bản).

 F-22 đã "chữa khỏi bệnh cảm cúm" và sẵn sàng trở lại châu Á - Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, nhiều vấn đề đã xảy ra đối với loại máy bay đắt tiền này, hệ thống oxy của nó khi bay ở độ cao lớn thường xuyên gặp sự cố dẫn tới bị hạn chế bay trong vài năm qua. 

Không quân Mỹ tin rằng họ đã tìm ra nguyên nhân cuối cùng để làm sao giảm được khả năng xảy ra tình trạng thiếu oxi (thỉnh thoảng xảy ra) với các phi công lái máy bay tàng hình của họ. Đặc biệt hơn, hồi cuối tuần trước Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tuyên bố, Không quân Mỹ sẽ triển khai thêm những máy bay F-22… tới Nhật Bản.

Trong bài diễn văn đó, ông Panetta nói rằng kế hoạch triển khai đầu tiên ở các căn cứ nước ngoài vẫn sẽ là các máy bay F-35. Bộ Quốc phòng Mỹ “đặt nền móng” cho F-35 để triển khai tới Iwakuni, Nhật Bản vào năm 2017. 

Mặc dù ông không chỉ định rõ biến thể F-35 nào sẽ được triển khai, nhưng có khả năng đó sẽ là biến cất cánh đường băng ngắn và hạ cánh thẳng đứng F-35B của Lính thủy đánh bộ Mỹ. Do chậm trễ trong quá trình sản xuất máy bay tàng hình mà F-35B sẽ là một trong ba biến thể đầu tiên được triển khai sẵn sàng chiến đấu tới căn cứ Iwakuni cùng với các chiến đấu cơ hải quân khác.

Tiêm kích tàng hình F-35. 
Bên cạnh B-52, F-22 và F-35, Không quân Mỹ còn điều động thêm các chiến đấu cơ F-15, F-16, A-10, máy bay không người lái và nhiều loại khác. 

Lầu Năm Góc đang lên kế hoạch gửi cả máy bay tuần tra biển P-8 tới châu Á-Thái Bình Dương và cả máy bay tiếp dầu KC-46.

Tuy nhiên, có thể là cả 3 loại máy bay tàng hình sẽ hoạt động trên “vùng biển nước xanh” Thái bình Dương sớm nhất là 5 năm tới. (Vùng biển nước xanh là thuật ngữ trong hải quân dùng để chỉ lực lượng có khả năng hoạt động ở vùng biển sâu đại dương. Những lực lượng nước này thường rất lớn trang bị tàu sân bay).

Tạp chí Wired đánh giá, ở thời điểm đó Trung Quốc có lẽ đã xây dựng và triển khai các biến thể máy bay chiến đấu tàng hình J-20 và J-31 của họ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là hai phi đội hàng không sẽ chiến đấu với nhau, bởi một cuộc chiến tranh giữa hai siêu cường là không cần thiết.
Nguyễn Yến (theo Russia Today)_Cập nhật lúc: 16:34 27/12/2012
http://kienthuc.net.vn/tin-tuc-quan-su/bo-ba-may-bay-tang-hinh-my-bao-vay-trung-quoc-177817.html

Hải quân Mỹ sắm 72 “thợ săn tàu ngầm” P-8A

9:40 PM |

(Kiến Thức) - Hải quân Mỹ đang chuẩn bị một chương trình lớn trong 5 năm để có thể mua thêm 72 máy bay tuần tra chống ngầm P-8A Poseidon.


Máy bay tuần tra chống ngầm P-8A Poseidon.
Tạp chí Flight Global đưa tin, kế hoạch “khủng” này của Hải quân Mỹ sẽ được thực hiện suôn sẻ nếu như Bộ Quốc phòng và Quốc hội thông qua trong một chương trình mua sắm quân sự kéo dài nhiều năm tới.

Một thông báo mua sắm được tiết lộ vào hôm 21/12 để tìm cách chuyển đổi chương trình mua sắm máy bay P-8A từ kế hoạch hàng năm lên kế hoạch 5 năm, từ năm 2015 – 2019.

Công ty Boeing đã cung cấp một trong 117 máy bay săn ngầm P-8A đầu tiên cho Hải quân Mỹ vào ngày 4/3/2012, chiếc máy bay này sẽ tham gia các hoạt động đầu tiên vào cuối năm 2013.

P-8A được thiết kế dựa trên khung thân máy bay thương mại Boeing 737-800ERX để thay thế cho loại máy bay chống ngầm Lockheed Martin P-3 Orion. Khi hoạt động, P-8A sẽ làm việc trong đội hình kết hợp với khoảng 60 máy bay do thám không người lái MQ-4C Trion, máy bay này được sử dụng để dẫn đường cho P-8A tiếp cận tới mục tiêu.

Máy bay P-8 có sải cánh 37,7m, dài 39,5m, trọng lượng cất cánh tối đa 90 tấn. P-8 được trang bị 2 động cơ phản lực cho phép đạt tốc độ tối đa 905km/h, trần bay 12.400m, tầm bay 2.222km.

P-8A được trang bị nhiều loại cảm biến khác nhau gồm: phao định vị thủy âm thả từ máy bay, cảm biến hình ảnh tầm xa, cảm biến từ trường, radar quét tầm xa và radar khẩu độ ống kính tổng hợp (SAR) cho phép chụp ảnh mục tiêu ở khoảch cách xa trong mọi điều kiện thời tiết, các thiết bị trinh sát điện tử.

P-8 trang bị hệ thống định vị toàn cầu GPS thế hệ mới có tính năng chống nhiễu và tích hợp khả năng phân biệt địch-ta. 

Nguyên mẫu P-8A được trang bị một khoang chứa vũ khí trong thân và 4 điểm treo trên cánh có khả năng mang: tên lửa hành trình chống tàu SLAM-ER, ngư lôi, bom, rocket, mìn chống tàu ngầm.

Việc Hải quân Mỹ đưa ra mua sắm 72 sát thủ tàu ngầm P-8A trong thời gian chỉ 5 năm, đây rõ ràng là một phần trong kế hoạch dịch chuyển quân sự về châu Á – Thái Bình Dương của nước này.

Các máy bay săn ngầm P-8A kết hợp với MQ-4C Trion sẽ bao phủ khu vực giám sát trên toàn Thái Bình Dương trong những năm tới để có thể tạo ra một mạng lưới trinh sát, giám sát và tấn công nhiều tầng trước các hạm đội tàu ngầm ngày càng lớn mạnh của Hải quân Trung Quốc.

Nguyễn Yến (theo Flight Global)_Cập nhật lúc: 11:32 28/12/2012
http://kienthuc.net.vn/tin-tuc-quan-su/hai-quan-my-sam-72-tho-san-tau-ngam-p-8a-178001.html

Cây đinh ba thần biển cả của Hải quân Mỹ

3:04 PM |

Tính tới thập kỷ 1990, Mỹ đã cho ra mắt tới 6 thế hệ SLBM với “sản phẩm” mới nhất là SLBM D5 Trident II kế thừa công nghệ từ dòng SLBM trước đó với một số cách tân.



Điểm nhấn của Trident II là khả năng mang đa đầu đạn và CEP thấp để đảm bảo tấn công phủ đầu chính xác các mục tiêu thông thường, cũng như kiên cố (được thiết kế để chống lại các vụ nổ hạt nhân).
Dòng SLBM này cũng được biết đến với độ tin cậy cao (kể từ năm 1989, đã có 143 vụ phóng thử Trident II được ghi nhận là thành công). Với nhiều ưu điểm, Trident II không chỉ nằm trong biên chế lực lượng tàu ngầm hạt nhân chiến lược Mỹ, mà còn cả trong lực lượng tên lửa chiến lược Anh.
SLBM Trident II.
Phiên bản phóng to của SLBM C4 với nhiều cải tiến
Xuất phát từ yêu cầu răn đe hạt nhân hải quân với Liên Xô, ngay từ năm 1956, Mỹ đã bắt tay vào phát triển vũ khí tiến công chiến lược hải quân (FBM)với sự ra mắt của các dòng SLBM Polaris (A1), Polaris (A2), Polaris (A3), Poseidon (C3) và Trident I (C4). Từ yêu cầu đáp ứng chiến lược với SLBM Sineva, hải quân Mỹ từ đầu những năm 1990 đã bắt đầu tái trang bị bằng SLBM thế hệ 6 D5 Trident II hay UGM-133 với nhiều yêu cầu kỹ-chiến thuật tiên tiến.
Trong thực tế, SLBM Trident II là phiên bản nâng cấp mang tính cách mạng của Trident I với việc nâng tầm bắn lên tới 7.360km, nhưng lại có sức mạnh vượt trội (tương đương với SLBM Poseidon).
Ngoài ra, những cải tiến mạnh về kết cấu động cơ phóng, trong đó có việc trang bị hệ thống thay đổi véc-tơ lực đẩy cho phép cải thiện đáng kể hiệu suất động cơ và cải thiện CEP khi tận dụng khả năng hồi đáp với hệ thống dẫn đường quán tính trang bị trên tên lửa.
Điểm khác biệt nữa là Trident II áp dụng sâu công nghệ vật liệu composite (graphite/epoxy ) trong chế tạo tuy làm đội giá thành, nhưng lại giúp giảm trọng lượng tên lửa. Ngoài ra, việc tăng kích thước tên lửa của D5 cũng giúp dòng SLBM này có thể mang theo các dòng đầu đạn tự dẫn thế hệ mới (MRV) MK5 có khả năng sống sót cao hơn trước lá chắn tên lửa của đối phương.
Cơ chế dẫn hướng tên lửa và giải phóng MRV khác biệt giúp SLBM D5 khắc phục được nhiều thiếu sót trên tên lửa C4 thế hệ trước.
Hình ảnh cắt lớp của đạn tên lửa Trident II.
Sức mạnh của “vũ khí trong tay thần Poseidon”
Chính thức được phát triển từ năm 1983 và bắt đầu phóng thử nghiệm từ tháng 1-1987, SLBM D5 đã vượt qua 15 vụ phóng thử (tới tháng 9-1988) với 12 lần phóng được ghi nhận là thành công. Sau khi được thiết kế để sửa đổi các thiếu sót, D5 chính thức được trang bị trên tàu ngầm hạt nhân USS Tenessee (SSBN 734) lớp Ohio từ năm 1990.
Tương tự như SLBM C4, D5 cũng có kết cấu 3 tầng sử dụng nhiên liệu rắn sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính kết hợp đạo hàng hình sao có hiệu chỉnh FBM (đã có thông tin về việc D5 còn có thể được trang bị hệ thống định vị vệ tinh GPS, nhưng không được kiểm chứng). Sai số CEP công khai của D5 được xác định là 90-120m rất phù hợp để tấn công phủ đầu “phẫu thuật” vào các mục tiêu kiên cố.
Tầm bắn của D5 cũng được cải thiệt nhờ kết cấu ống phụt động cơ mới đem lại hiệu năng hoạt động tăng 50% so với SLBM C4. Theo các nguồn tin đáng tin cậy, tầm bắn của D5 vào khoảng 4.600 hải lý, tương đương hơn 7.000km.
Đây cũng là con số hợp lý đối với các SLBM do thực tế hoạt động của tàu ngầm cơ động hơn nhiều so với bệ phóng cố định hay di động. Tàu ngầm chiến lược hoàn toàn có thể chọn vị trí phóng hợp lý nhất trên các đại dương nên không cần các dòng SLBM có tầm bắn quá lớn làm hạn chế về kích thước và trọng lượng tên lửa triển khai trên tàu.
Giếng phóng trên SLBM D5 trên tàu ngầm nguyên tử lớp Ohio.
Những cải tiến về vật liệu và thiết kế cho SLBM D5 nhẹ hơn, cấu trúc bền vững hơn để có thể mang nhiều đầu đạn hơn. Ở thiết kế cơ bản, D5 có thể mang được tới 12 đầu đạn W88 có sức công phá 475 Kiloton hoặc W76 (100 Kilotone), nhưng do yêu cầu của Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược (START-1) với Nga, số lượng đầu đạn của D5 được giới hạn là 8, còn theo START mới, số lượng này tiếp tục cắt xuống còn 4-5 đầu đạn.
Ở điều kiện tác chiến, D5 dài 13,41m, đường kính thân là 1,85m và trọng lượng khoảng 58,5 tấn. Tuy nhiên, hạn chế của D5 so với đối thủ cùng lớp SLBM Bulava là việc vẫn sử dụng ống phóng dạng thẳng đứng nên khi phóng, tàu ngầm vận chuyển phải đứng im ở độ sâu phù hợp (thường là 50m). Khi phóng hệ thống đẩy thủy lực trong ống phóng giúp đẩy tên lửa lên mặt nước rồi mới kích hoạt động cơ chính.
Nguyên tắc hoạt động của D5 cũng tương tự như các dòng ICBM, SBLM nhiên liệu rắn, nhưng có cải tiến ở việc điều chỉnh được mức độ cháy của thỏi nhiên liệu giúp tên lửa hiệu chỉnh hướng tốt hơn.
Hiện tại, D5 đang được trang bị trên 14 tàu ngầm nguyên tử lớp Ohio của hải quân Mỹ và 4 tàu ngầm lớp Vanguard của hải quân Anh. Do chưa có kế hoạch thay thế, Mỹ và Anh đang hợp tác kéo dài niên hạn sử dụng D5 tới năm 2042 với chương trình D5LE.
Đầu đạn hạt nhân nhiệt hạch là gì?
Phản ứng nhiệt hạch lợi dụng đặc tính ở nhiệt độ cao các hạt nhân của đồng vị deuterium và tritium có thể dễ dàng hợp nhất thành đồng vị hydrogen và giải phóng một lượng lớn năng lượng trong quá trình này. Loại vũ khí sử dụng nguyên lý này được gọi là bom nhiệt hạch hay bom H.
Về bản chất, deuterium và tritium là hai loại khí và rất khó lưu giữ ở dạng tinh chất. Ngoài ra, chúng còn rất hiếm và không ổn định. Để phản ứng nhiệt hạch xảy ra cần cung cấp một lượng nhiệt rất lớn.
Trong thực tế, nhiên liệu của bom H là hợp chất lithium deuteride (thể rắn, trơ ở nhiệt độ thường). Bên trong một quả bom nhiệt hạch gồm một lõi phân hạch nhỏ dùng U-238 để tạo nhiệt lượng mồi phản ứng cho các khối nhiên liệu lithium deuteride . Khi được kích hoạt, khối lõi sẽ phản ứng phân hạch cung cấp nhiệt lượng để lithium phân hạch thành tritium và đồng thời phản ứng phân hạch này cũng tạo điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa deuterium và tritium giải phóng nhiệt lượng tương đương với bề mặt của mặt trời. Với nguyên lý này, con người có thể chế tạo ra những qua bom có sức công phá hơn lớn hàng trăm nghìn Kilotone, thậm chí là tới cả trăm Megatone (triệu tấn thuốc nổ TNT). Trong thực thế, Nga đã từng cho nổ thử bom nhiệt hạch Tsas với sức công phá dự kiến là 100 Megatone, nhưng sau giảm xuống còn 50 Megatone đã tạo ra sóng chấn động chạy xung quanh trái đất 14 vòng, tạo ra nhiệt độ nung chảy mọi vật trong tầm ảnh hưởng thành mác-ma
Hầu hết các dòng vũ khí hạt nhân chiến lược hiện nay trên thế giới đều sử dụng cơ cấu đầu đạn nhiệt hạch.


07/09/2013 11:15_theo Quân đội nhân dân
http://soha.vn/quan-su/cay-dinh-ba-than-bien-ca-cua-hai-quan-my-20130907104515209.htm

3 mạng phòng thủ không gian bá chủ toàn cầu của Mỹ

2:58 PM |

(Soha.vn) - Mạng lưới phòng thủ này bao phủ từ tầng bình lưu đến tầng ngoại quyển, sử dụng UAV, hệ thống vệ tinh, kính hiển vi tele...


Máy bay không gian Falcon HTV-2 Mỹ
Trang mạng đài truyền hình bán đảo Qatar vừa đăng bài viết “Tương lai của chiến tranh không gian và vai trò ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ” của giáo sư sử học Alfred McCoy, phân hiệu Madison, Đại học Wisconsin, Mỹ.

Bài viết cho rằng, năm 2012, kế tiếp việc Mỹ tiến hành chiến tranh trên bộ nhiều năm ở Iraq, Afghanistan và liên tục tăng ngân sách quân sự, Chính phủ Obama đã tuyên bố thu hẹp chiến lược phòng thủ trong tương lai, trong đó có vấn đề cắt giảm 14% lực lượng bộ binh. 

Thay vào đó, Mỹ tiếp tục coi trọng đầu tư để giành lấy quyền kiểm soát/chi phối không gian vũ trụ và không gian mạng, đặc biệt là “khả năng không gian vũ trụ rất quan trọng” như Chính phủ Mỹ tuyên bố.

Đến năm 2020, cấu trúc phòng thủ mới này, về lý thuyết, có thể thông qua công nghệ robot để kết hợp giữa chiến tranh không gian vũ trụ với chiến tranh không gian mạng và chiến tranh trên bộ. Điều quan trọng là, không gian vũ trụ và không gian mạng là sự vật mới, là lĩnh vực xung đột quân sự không được ai quản lý, về cơ bản không bị ràng buộc bởi luật pháp quốc tế.

Mỹ hy vọng dựa vào điều đó để chi phối toàn cầu bằng phương thức mới, đồng thời giúp họ duy trì được ưu thế trong một thời gian dài ở thế kỷ 21, đúng như trước đây Anh sử dụng sức mạnh trên biển để xưng bá thế giới, trong khi đó, ở thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã sử dụng sức mạnh trên không để gây ảnh hưởng trên toàn cầu.

Chiến tranh không gian vũ trụ
Theo bài viết, mặc dù chương trình chiến tranh không gian vũ trụ của Mỹ vẫn giữ bí mật cao độ, nhưng vẫn có thể tìm được manh mối từ trang mạng của Bộ Quốc phòng Mỹ, đồng thời phát hiện được rất nhiều nội dung quan trọng từ việc trình bày mang tính công nghệ của Cục dự án nghiên cứu cao cấp – Bộ Quốc phòng Mỹ, từ đó ta có thể nhìn thấy được “bức tranh” của chương trình không gian này.

Bộ Quốc phòng Mỹ hy vọng, sớm nhất đến năm 2020, Mỹ có thể thông qua 3 mạng lưới phòng thủ không gian quan trọng để theo dõi toàn cầu mà không bị gián đoạn, phạm vi bao phủ của 3 mạng lưới phòng thủ quan trọng này từ tầng bình lưu đến tầng ngoại quyển (tầng ngoài), lấy trang bị máy bay không người lái lắp tên lửa linh hoạt làm lực lượng chính, do hệ thống vệ tinh kiểu modul có khả năng kháng cự mạnh làm “mối nối”, thông qua kính hiển vi tele (nhìn xa) để tiến hành theo dõi, đồng thời sử dụng công nghệ điều khiển robot (người máy) để vận hành.

Máy bay do thám không người lái Global Hawk kiểm soát tầng thấp nhất
Global Hawk kiểm soát tầng thấp nhất

Bài viết cho rằng, tầng thấp nhất của mạng lưới phòng thủ không gian này của Mỹ là tầng dưới của tầng bình lưu. Bộ Quốc phòng Mỹ đang xây dựng đội bay gồm 99 máy bay không người lái Global Hawk.

Những máy bay này đã được trang bị máy camera có tỷ lệ phân giải cao, có thể theo dõi tất cả địa hình trong phạm vi bán kính 100 dặm Anh (khoảng 161 km); đồng thời những máy bay này còn trang bị bộ cảm biến điện tử chặn thông tin, có thể bảo đảm động cơ hiệu quả cao giúp máy bay hoạt động liên tục 24/24 giờ và có thể tiêu diệt tên lửa của mục tiêu mặt đất.

Đến cuối năm 2011, Không quân và Cục Tình báo Trung ương (CIA) Mỹ đã bố trí, triển khai 60 cơ sở máy bay không người lái ở lục địa Âu-Á, những máy bay không người lái này đã được trang bị tên lửa Hellfire và bom GBU-30, làm cho các mục tiêu ở bất cứ khu vực nào tại 3 châu lục Âu-Á-Phi đều nằm trong phạm vi tập kích đường không.

Nếu tất cả phát triển theo kế hoạch, thì ở nơi có độ cao nhất là 12 dặm Anh, máy bay không người lái (tuần tra toàn bộ Trái đất) sẽ bay 1 lần với thời gian 5 năm không gián đoạn, đồng thời mang theo bộ cảm biến “không chớp mắt”, có thể còn mang theo tên lửa có khả năng tấn công chí tử.

Máy bay không người lái MQ-9 Reaper phóng tên lửa Hellfire
Falcon ngự trị tầng trung gian

Bài viết cho rằng, ở tầng trung gian của mạng phòng không không gian cũng chính là tầng trên của tầng bình lưu, Cục dự án nghiên cứu cao cấp và Không quân Mỹ đang nghiên cứu phát triển máy bay hành trình siêu siêu âm (máy bay siêu thanh, siêu tốc, tên lửa siêu thanh) mang tên Falcon HTV-2.

Loại máy bay này bay ở độ cao 20 dặm Anh, dự kiến có thể mang theo tải trọng hiệu quả 545 kg, khi cất cánh từ nước Mỹ, chưa đầy 2 giờ là nó có thể bay được cự ly 9.000 hải lý (khoảng 16.700 km).

Mặc dù loại siêu máy bay này đều đã bay thử thất bại vào tháng 4/2010 và tháng 8/2011, nhưng nó thực sự đã đạt được tốc độ kinh người là 13.000 dặm Anh/giờ, gấp 22 lần vận tốc âm thanh, hơn nữa số liệu thu được từ hoạt động bay thử càng có lợi cho việc giải quyết vấn đề khí động lực học còn tồn tại hiện nay.

Máy bay không gian Falcon HTV-2 Mỹ
X-37B chủ trì tầng ngoại quyển

Bài viết chỉ ra, tầng cao nhất – “thời đại chiến tranh vũ trụ” của 3 mạng lưới phòng thủ quan trọng đã để lộ manh mối vào tháng 4/2010. Khi đó, Bộ Quốc phòng Mỹ đã lặng lẽ phóng tàu vũ trụ không người lái (hay còn gọi là tàu con thoi vũ trụ mini, máy bay không gian/vũ trụ không người lái, máy bay) mang tên X-37B.

Loại máy bay vũ trụ này chỉ dài 29 thước Anh (khoảng 8,8 m), quỹ đạo bay cách Trái đất 250 dặm Anh. Sau khi hoạt động trong không gian 15 tháng, chiếc máy bay mẫu X-37B thứ hai đã hạ cánh xuống căn cứ không quân Vandenberg vào tháng 6/2012, điều này khẳng định với dư luận rằng “máy bay không gian được kiểm soát bằng công nghệ robot, có thể tái sử dụng” đã bay thử thành công, đồng thời đã xác định máy bay không người lái bay ở ngoài bầu khí quyển là khả thi.

Máy bay vũ trụ X-37B được cho là đã do thám trạm không gian Thiên Cung-1 của Trung Quốc
Đỉnh của 3 mạng lưới phòng thủ quan trọng này cũng chính là nơi cách Trái đất 200 dặm Anh – nơi sẽ nhìn thấy máy bay không người lái lướt qua rất nhanh. Đối với loại máy bay vũ trụ này, vệ tinh trên quỹ đạo là mục tiêu tấn công chủ yếu.

Đối với vấn đề này, Bộ Quốc phòng Mỹ đang nghiên cứu phát triển hệ thống vệ tinh F-6, nó sẽ “phân chia một tàu vũ trụ khổng lồ thành rất nhiều yếu tố và điểm nút kết nối không dây, từ đó tăng cường khả năng ngăn chặn một bộ phận máy nào đó xảy ra sự cố hoặc kẻ thù phát động tấn công”.

Cuối cùng, uy lực, sức mạnh của mạng lưới phòng thủ này phải xem Quân đội Mỹ có thể kết hợp được rất nhiều vũ khí không gian toàn cầu với cấu trúc chỉ huy người máy (robot) hay không, từ đó có thể phối hợp các hành động ở khu vực tác chiến giữa không gian vũ trụ, không gian mạng với hải, lục, không quân.

theo Nguyễn Hiền / Trí Thức Trẻ_quangminh | 
http://soha.vn/quan-su/3-mang-phong-thu-khong-gian-ba-chu-toan-cau-cua-my-20121122064759389.htm

Sức mạnh chiến hạm Mỹ mang 90 tên lửa vừa qua gần đảo Tri Tôn

2:40 PM |
Tàu khu trục mang tên lửa điều khiển USS Curtis Wilbur được trang bị 90 ống phóng thẳng đứng có thể mang theo tới 90 tên lửa tấn công mặt đất Tomahawk tầm bắn 2.500 km.

Lầu Năm Góc vừa điều động tàu khu trục mang tên lửa điều khiển USS Curtis Wilbur (DDG-54) đi vào vùng 12 hải lý xung quanh đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép nhằm thực thi quyền tự do hàng hải.
DDG-54 có chiều dài 154 m, rộng 20 m, mớn nước 9,4 m, lượng giãn nước toàn tải 9.000 tấn, thủy thủ đoàn 280 người. Hệ thống động lực của tàu gồm 4 động cơ tuabin khí LM2500 với tổng công suất 100.000 mã lực, tốc độ tối đa 30 hải lý/giờ, dự trữ hành trình 4.400 hải lý.
DDG-54 là chiếc thứ 4 thuộc lớp Arleigh Burke - loại tàu khu trục mang tên lửa điều khiển chủ lực của Hải quân Mỹ với 62 tàu đang hoạt động. Tàu được đặt theo tên Bộ trưởng Hải quân thứ 43 Curtis Wilbur, phục vụ dưới thời Tổng thống Calvin Coolidge (1923 - 1929).
Cảm biến chính của DDG-54 là radar mạng pha hoạt động theo từng giai đoạn AN/SPY-1D (vòng tròn đỏ) với 4 mảng ăng ten bố trí xung quanh tháp chỉ huy. Radar này là "trái tim" của hệ thống chiến đấu Aegis, có khả năng đối phó với hàng loạt mối đe dọa khác nhau.
Bên trong tàu được trang bị các thiết bị điện tử hàng hải hiện đại với khả năng tự động hóa cao cho phép thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng lúc
DDG-54 là tàu khu trục Aegis đầu tiên của Mỹ tiếp nhận nữ thủy thủ làm nhiệm vụ trên tàu vào năm 1994.
Tàu được trang bị pháo hạm Mark 45 127 mm, pháo có tốc độ bắn từ 16 - 20 viên/phút, tầm bắn tối đa 24 km, lên đến 37 km với đạn tăng tầm. Khoang chứa đạn của pháo có thể mang theo tới 680 đạn pháo cho phép tác chiến trong thời gian dài.
Hỏa lực mạnh nhất trên tàu đến từ 90 ống phóng thẳng đứng Mk41 với 29 ở phía trước và 61 ở phía sau. Mk 41 có thể phóng tên lửa hành trình tấn công mặt đất BGM-109 Tomahawk tầm bắn 2.500 km, tên lửa chống ngầm RUM-139 VL-ASROC.
Ngoài ra, Mk 41 có thể phóng tên lửa đánh chặn RIM-156 SM-2 tầm bắn 240 km, tầm cao 33 km. Tên lửa này có khả năng thực hiện nhiệm vụ phòng thủ tên lửa đạn đạo tầm trung và tên lửa đạn đạo chiến thuật.
Năng lực chống hạm của tàu dựa trên 8 tên lửa cận âm RGM-84 Harpoon. Tên lửa được dẫn hướng đến mục tiêu kết hợp quán tính giai đoạn đầu và radar chủ động giai đoạn cuối. Harpoon có tầm bắn 124 km, mang theo đầu đạn nặng 221 kg.
Hai bên mạn tàu được bố trí cụm phóng ngư lôi hạng nhẹ Mark 32 với 3 ống mỗi cụm. Ống phóng này có thể khởi động ngư lôi Mark 46 tầm bắn 15 km.
Nhiệm vụ phòng thủ và đánh chặn tầm cực gần được giao cho 2 hệ thống Phalanx 20 mm. Hệ thống gồm một pháo 6 nòng 20 mm cùng radar tìm kiếm mục tiêu và điều khiển hỏa lực. Phalanx có thể đánh chặn các mục tiêu trong phạm vi 3,5 km xung quanh tàu.
Ngoài ra, xung quanh tàu còn được lắp 4 súng máy hạng nặng 12,7 mm và 2 pháo 25 mm để đối phó với các xuồng đổ bộ hay các mục tiêu nhỏ của đối phương.
Đuôi tàu có sàn đáp và nhà chứa cho trực thăng chống ngầm SH-60 Seahawk. Trực thăng có thể hoạt động ở bán kính 200 km quanh tàu mẹ.
Từ năm 2011, USS Curtis Wilbur thuộc biên chế nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan (CVN-76), Hạm đội 7 có cảng chính tại Yokosuka, Nhật Bản.
Nguồn: Zing.vn_02/02/16 08:09
http://infonet.vn/suc-manh-chien-ham-my-mang-90-ten-lua-vua-qua-gan-dao-tri-ton-post190493.info

Những ngôi sao của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ

9:18 PM |
Tàu sân bay USS George Washington là soái hạm của Lực lượng đặc nhiệm 70, dẫn đầu nhóm tàu tấn công của Hạm đội 7, Hải quân Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Hạm đội 7 có khoảng 60 đến 70 tàu chiến, 300 máy bay và 40.000 người thuộc Hải quân và Thủy quân Lục chiến Mỹ. Căn cứ chính của hạm đội được đặt tại Yokosuka, Nhật Bản. Nó đặc trách khu vực châu Á-Thái Bình Dương và nằm dưới quyền chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương.
Tàu USS Blue Ridge (LCC-19), soái hạm của Hạm đội 7. LCC-19 được thiết kế năm 1964, khởi đóng vào năm 1967, hạ thủy năm 1969. Đến tháng 11/1970, nó chính thức được bàn giao cho lực lượng hải quân Mỹ.
Lực lượng đặc nhiệm (TF) số 70 đảm trách nhiệm vụ tấn công của hạm đội, chia thành 2 phần. Lực lượng tham chiến trên mặt nước gồm các tuần dương hạm và tàu khu trục trong khi lực lượng không kích gồm ít nhất một tàu sân bay và phi đội chiến đấu của nó cùng các tàu hộ tống. Soái hạm của TF 70 là tàu sân bay USS George Washington thuộc lớp Nimitz.
TF 71 gồm tất cả các đơn vị chiến tranh đặc biệt của Hải quân và đơn vị tháo dỡ vật liệu nổ di động. Trụ sở của TF 71 được đặt tại đảo Guam. Lực lượng này cũng đảm trách các nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn và cứu hộ. Các tàu chiến của Cơ quan An toàn Hàng hải Nhật Bản và tàu chiến Hàn Quốc cũng tham gia lực lượng này. Tàu khu trục USS Sterett thuộc biên chế TF 71.
TF 72 là lực lượng tuần tra, trinh sát của Hạm đội 7. Nó gồm chủ yếu các máy bay chống ngầm và giám sát mặt biển như P-3 Orion và EP-3. Chúng cất cánh từ đất liền để thực hiện các nhiệm vụ trên biển. Căn cứ của lực lượng này có thể nằm ở Kamiseya, Nhật Bản.
Lực lượng đảm trách nhiệm vụ tiếp tế và hậu cần của Hạm đội 7 là TF 73, gồm các tàu tiếp vận và tàu hỗ trợ hạm đội khác. Trụ sở chính của lực lượng này nằm tại Singapore. Tàu tiếp vận USNS Cesar Chavez (T-AKE-14) trong biên chế TF 73.
Năm 1971, Lực lượng đặc nhiệm 74 ra đời để hợp thành nhóm tàu tấn công do hàng không mẫu hạm USS Enterprise dẫn đầu. Ngày nay, nó là lực lượng chịu trách nhiệm hoạch định và điều phối các hoạt động tàu ngầm trong khu vực chịu trách nhiệm của Hạm đội 7. Tàu ngầm nguyên tử USS City of Corpus Christi (SSN-705) thuộc biên chế TF 74.
Lực lượng đặc nhiệm 75 là đơn vị tàu chiến đấu mặt nước phụ trách các tuần dương hạm và khu trục hạm không làm nhiệm vụ hộ tống tàu sân bay. Trụ sở của TF 75 nằm tại Trại Covington, đảo Guam. Lực lượng này được đưa vào hoạt động từ năm 2014. Tàu tác chiến ven bờ USS Fort Worth (LCS-3) thuộc biên chế của TF 75.
TF 78 đảm trách nhiệm vụ tấn công đổ bộ, chủ yếu hỗ trợ các cuộc hành quân của Lính thủy đánh bộ. Nó có các thiết bị chuyên dụng để đưa lực lượng tấn công từ tàu đổ bộ vào đất liền. Tàu đổ bộ USS Green Bay (LPD-20) của Hạm đội Thái Bình Dương, góp mặt trong biên chế Hạm đội 7 từ tháng 1/2015.
Lực lượng đặc nhiệm 77 là đơn vị chuyên làm nhiệm vụ rà phá thủy lôi của hạm đội, trang bị các tàu quét mìn (thủy lôi), trực thăng quét mìn. Tàu quét mìn USS Pioneer (MCM 9) trong biên chế Hạm đội 7.
Hồng Duy_07:43 16/05/2015
http://news.zing.vn/Nhung-ngoi-sao-cua-Ham-doi-7-Hai-quan-My-post539811.html

Những "nắm đấm thép" mạnh nhất của Hạm đội 7 Mỹ.

7:13 AM |

Là lực lượng hải quân lớn nhất của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương, cơ cấu Hạm đội 7 được tổ chức thành các lực lượng đặc nhiệm có chức năng chuyên biệt.




Mỗi lực lượng có cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và các tàu chiến riêng biệt như tàu sân bay, tàu tuần dương, khu trục, tàu đổ bộ tàu vận tải và tàu quét mìn…


Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về những "nắm đấm thép" mạnh nhất của Hạm đội 7:
CDS-15 nhìn từ tàu USS George Washington
Lực lượng đặc nhiệm 70
Đây là lực lượng chiến đấu mạnh nhất của Hạm đội 7 mỹ, bao gồm hai thành phần riêng biệt: Nhóm tác chiến tàu sân bay số 5 (CSG 5) do tàu sân bay USS George Washington (CVN-73) dẫn đầu và không đoàn 5 (CVW-5).
Bảo vệ cho lực lượng này là hai tàu tuần dương Ticonderoga và liên đoàn khu trục hạm số 15 (CDS-15).
Lực lượng đặc nhiệm số 70 được triển khai tại căn cứ Yokosuka, Nhật Bản bao gồm các tàu chiến sau:
USS George Washington (CVN-73)
Không đoàn 5 (CVW-5)
Tàu tuần dương Ticonderoga:
- USS Shiloh (CG 67)
- USS Antietam (CG 54)
Liên đoàn khu trục hạm số 15:
- USS Curtis Wilbur (DDG 54)
- USS Fitzgerald (DDG 62)
- USS John S. McCain (DDG 56)
- USS Lassen (DDG 82)
- USS McCampbell (DDG 85)
- USS Mustin (DDG 89)
- USS Stethem (DDG 63)

Xuồng cao tốc thuộc đơn vị NSW số 1 Hải quân
Lực lượng đặc nhiệm số 71
Lực lượng đặc nhiệm số 71 gồm đơn vị tác chiến đặc biệt Hải quân (NSW) và các đơn vị lưu động tháo gỡ chất nổ (EODMU) được ủy nhiệm cho Hạm đội 7.
NSW là lực lượng có nhiệm vụ huấn luyện, trang bị và triển khai đặc nhiệm như SEAL thâm nhập/ rời khỏi lãnh thổ của đối phương một cách bí mật, cung cấp hỏa lực hỗ trợ khi cần thiết.

Máy bay P-8 Poseidon tại căn cứ không quân Kadena
Lực lượng đặc nhiệm 72
Đây là lực lượng tuần tra, trinh thám và chống ngầm của Hạm đội 7.
Lực lượng đặc nhiệm 72 thường bao gồm hai phi đội tuần tra, bao gồm các máy bay chống ngầm P-3 Orion  và P-8 Poseidon, cùng với hai phi đội trinh sát độc lập và một số tàu nổi.
Lực lượng đặc nhiệm số 72 có hơn 1.100 quân nhân đang làm nhiệm vụ. Các máy bay P-3 đã, đang và sẽ được thay thế bằng các máy bay P-8 hiện đại hơn.
Các thành phần chính của lực lượng đặc nhiệm 72:
Task Group 72.2: gồm phi đội P-3 Orion và P-8 Poseidon  được bố trí tại căn cứ không quân Kadena, Okinawa.
Task Group 72.4 : Phi đội máy bay P-3 Orion tại căn cứ không quân hải quân Misawa.
Task Group 72.5: Phi đội máy bay trinh sát độc lập tại căn cứ không quân Kadena, Okinawa.

Một tàu ngầm hạt nhân neo đậu cạnh tàu tiếp vận USS Frank Cable (AS 40)
Lực lượng đặc nhiệm 74
Đây là lực lượng tàu ngầm có trách nhiệm hoạch định và điều phối các hoạt động tàu ngầm trong khu vực hoạt động của Hạm đội 7.
Lực lượng này bao gồm ba tàu ngầm hạt nhân tấn công nhanh (SSN) thường trực và 2 tàu tiếp liệu cho tàu ngầm.
Các tàu này đều có cảng nhà là căn cứ hải quân Guam.
Danh sách các tàu ngầm và tàu tiếp vận thuộc lực lượng đặc nhiệm 74:
Tàu ngầm
- USS Chicago (SSN 721)
- USS Key West (SSN 722)
- USS Oklahoma City (SSN 723)
Tàu tiếp liệu:
- USS Frank Cable (AS 40)
- USS Emory S. Land (AS 39)
Máy bay MV-22 chuẩn bị hạ cánh trên tàu USS Green Bay (LPD 20)
Lực lượng đặc nhiệm 76
Đây là lực lượng tấn công đổ bộ của Mỹ, chịu trách nhiệm hỗ trợ các cuộc hành quân đổ bộ của thủy quân lục chiến Mỹ.
Lực lượng đặc nhiệm 76 bao gồm các tàu tấn công đổ bộ, tàu đổ bộ và các tàu quét mìn.
Tàu lớn nhất của lực lượng này là tàu đổ bộ lớp Wasp USS Bonhomme Richard, có thể mang theo các trực thăng cỡ lớn như MV-22 và máy bay có cánh cố định cùng với tối đa 1.000 lính thủy đánh bộ.
Cùng với các tàu đổ bộ, lực lượng này còn bao gồm các tàu quét mìn với nhiệm vụ phát hiện và vô hiệu hóa thủy lôi. Tất cả các tàu này đều được bố trí tại căn cứ hải quân Sasebo của Nhật Bản.
Danh sách các tàu của lực lượng đặc nhiệm 76:
Liên đoàn tàu đổ bộ số 11:
- USS Bohomme Richard (LHD 6)
- USS Green Bay (LPD 20)
- USS Ashland (LSD 48)
- USS Germantown (LSD 42)
- USS Blue Ridge (LCC 19)
Liên đoàn tàu quét mìn số 7:
- USS Pioneer (MCM 9)
- USS Chief (MCM 14)
- USS Patriot (MCM 7)
- USS Warrior (MCM 10)
Hạm đội 7 còn bao gồm các đơn vị khác như:
Lực lượng đặc nhiệm 73: Đơn vị Tiếp vận hậu cần của hạm đội với khoảng 50 tàu vận tải (bao gồm cả các tàu hải quân và dân sự)
Lực lượng đặc nhiệm 75: thực thi các nhiệm vụ tại vùng duyên hải và trên đất liền như nhiệm vụ nhân đạo/ hỗ trợ thiên tai, rà phá mìn, duy trì an ninh…
Lực lượng đặc nhiệm 78: các lực lượng hải quân đóng tại Hàn Quốc.
Lực lượng đặc nhiệm 79: Thủy quân lục chiến trên các tàu của hạm đội.
Ngân Đan | _theo Đại Lộ
http://soha.vn/quan-su/nhung-nam-dam-thep-manh-nhat-cua-ham-doi-7-my-20150407075844852.htm