VN có thể hoán cải P-15 Termit thành tên lửa hành trình đối đất?

7:22 PM |

Tương tự SA-2, các tên lửa đối hạm P-15 Termit hiện đã rất cũ, khó có thể đảm đương nhiệm vụ như thiết kế ban đầu, do vậy chúng cần một vai trò mới để trở nên hữu ích hơn.


Hải quân Nhân dân Việt Nam hiện đang duy trì một số lượng khá lớn tên lửa đối hạm P-15 Termit (SS-N-2 Styx) để trang bị cho các tàu tấn công nhanh Molniya 1241.RE (Tarantul), Osa II, cũng như hệ thống phòng thủ bờ biển 4K51 Rubezh.
P-15 Termit ra đời từ những năm 1950 có tầm bắn 85 km, tốc độ tối đa Mach 0,9 và mang đầu đạn bán xuyên giáp nặng 513 kg.
Mặc dù có uy lực lớn nhưng do nhược điểm kích thước khá cồng kềnh, bay hành trình cao (giai đoạn cuối vẫn còn ở độ cao trên 100 m), tốc độ chậm, độ cơ động kém nên P-15 rất dễ bị đánh chặn bởi các chiến hạm hiện đại có hệ thống phòng thủ tiên tiến.
Ngoài ra, loại tên lửa này còn dễ dàng bị gây nhiễu trong môi trường tác chiến điện tử dày đặc.
Với những hạn chế nêu trên, SS-N-2 Styx rất khó có thể đảm đương nhiệm vụ như chống tàu chiến như thiết kế ban đầu trong thời đại ngày nay. Do vậy, nó cần một vai trò mới để trở nên hữu ích hơn.
Tàu tên lửa Molniya 1241.RE (Tarantul) được trang bị 4 tên lửa chống hạm P-15 Termit
Trong trường hợp Việt Nam quyết định hoán cải P-15 Termit, chúng ta có thể cho nó chức năng mới là bia bay đạn đạo hoặc tên lửa hành trình đối đất.
Tuy nhiên phương án hai là khả thi hơn, nhất là khi gần đây các tên lửa phòng không SA-2 chuyển đổi mục đích thành tên lửa đạn đạo vẫn liên tiếp lập chiến công tại Trung Đông.
Với đầu đạn lớn, tên lửa P-15 có sức mạnh hủy diệt thực sự đáng gờm, nhưng nhược điểm lớn nhất của nó lại là tầm bắn ngắn do dùng động cơ nhiên liệu lỏng. Việc thay thế động cơ là gần như bất khả thi, do phải can thiệp quá sâu vào cấu trúc nguyên thủy.
Nhưng nhược điểm về tầm bắn sẽ được khắc phục nhờ phương tiện mang là các tàu cao tốc cỡ nhỏ, có thể bí mật áp sát bờ biển đối phương và phóng tên lửa tấn công các hải cảng, sân bay ven biển hay mục tiêu gần bờ (trên dưới 50 km).
Tên lửa đối hạm P-15T Termit của Việt Nam
Trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng đã ghi nhận việc tên lửa đối hạm P-15 được sử dụng để tấn công mục tiêu trên đất liền. Vào ngày 4/12/1971, nhà máy lọc dầu ở Keamari, Pakistan đã bị tấn công bởi tên lửa P-15 phóng đi từ các tàu chiến nhỏ của Hải quân Ấn Độ.
Những bồn chứa dầu lớn do bị hun nóng bởi mặt trời vào ban ngày nên ban đêm chúng phát ra nhiệt. Tên lửa P-15T (phiên bản trang bị đầu dò hồng ngoại) đã bắt được mục tiêu và gây ra khá nhiều thiệt hại.
Hải quân Việt Nam đang được trang bị cả hai biến thể dùng đầu dò radar chủ động và hồng ngoại của Termit, hướng cải tiến tối ưu có lẽ chỉ cần nâng cấp hệ thống dẫn đường chính xác cho tên lửa là đủ.
Một tàu tên lửa Tarantul với 4 ống phóng P-15 sẽ mang cơ số 2 đạn chống hạm để tự vệ, còn lại 2 đạn đối đất để đánh đòn tập kích vào căn cứ đối phương. Khi đó sức mạnh răn đe của lớp tàu chiến này sẽ tăng lên nhiều lần.
Tương tự như SA-2, mặc dù có thể không còn quá nhiều vai trò nhưng tên lửa chống hạm P-15 Termit vẫn còn rất hữu ích, kể cả phải hoán cải sang một vai trò khác.
theo Thế giới trẻ_Bạch Dương | 
http://soha.vn/quan-su/vn-co-the-hoan-cai-p-15-termit-thanh-ten-lua-hanh-trinh-doi-dat-20160313144853306.htm

Tên lửa P-15 và 2 dự án cải tiến vũ khí độc đáo của Hải quân VN.

6:31 PM |

Đưa tên lửa chống hạm P-15 lên bệ phóng SA-2 và khu trục hạm chiến lợi phẩm của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa là 2 dự án cải tiến vũ khí ít được biết tới của Hải quân Việt Nam.

Cuối năm 1972, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam 4 tàu tên lửa tấn công nhanh Komar Dự án 183R, mỗi tàu trang bị 2 ống phóng tên lửa chống hạm P-15 cánh cứng có đầu tự dẫn, tầm bắn 40 km.
Ngày 20/12/1972, 4 khung tàu của Trung đoàn 172 đã tiếp nhận và tổ chức cho 4 tàu hành trình từ cảng Trạm Giang (Quảng Đông - Trung Quốc) về nước an toàn.
Tàu tên lửa Komar Dự án 183R
Đây là lần đầu tiên Hải quân Nhân dân Việt Nam được trang bị tàu chiến có tên lửa chống hạm và cũng là lần đầu tiên ngành kỹ thuật Hải quân thực hiện nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật, khai thác sử dụng loại phương tiện chiến đấu mới này.
Đến tháng 1/1973, một số chuyên gia Liên Xô đã sang hướng dẫn, giúp huấn luyện sử dụng tàu tên lửa Dự án 183R.
Tên lửa P-15 Termit của tàu Komar nhận yêu cầu có thể triển khai từ trên bờ
Dự án cải tiến lắp tên lửa P-15 lên bệ phóng SA-2
Cùng thời gian này, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Hải quân chủ trương nghiên cứu cải tiến đưa tên lửa P-15 từ dưới tàu lên bờ, cơ động, bí mật phục kích đánh tàu mặt nước của địch và thành lập Đoàn 173 (tức Z1).
Nhiệm vụ của Đoàn 173 là nghiên cứu cải tiến đưa tên lửa P-15 từ dưới tàu 183R lắp trên bệ phóng của tên lửa phòng không SA-2 để cơ động chiến đấu trên bờ, tính toán chính xác phần tử bắn cho tên lửa.
Yêu cầu đặt ra là bảo đảm tên lửa cố định vững chắc trên bệ khi cơ động, hoạt động dễ dàng trên rãnh trượt.
Đi kèm bệ tên lửa là trạm radar cơ động 403 để bắt bám mục tiêu và một xe nguồn cung cấp điện 50 KVA. Sau thời gian ngắn, cán bộ Đoàn 173 đã xây dựng xong đề án nghiên cứu cải tiến tên lửa.
Ngày 14/4/1973, Tư lệnh Hải quân ký đã quyết định (Số: 11/QĐ) chuẩn y đề án cải tiến tên lửa P-15 trang bị dưới tàu tên lửa 183R đưa lên sử dụng chiến đấu trên bờ.
Tháng 10/1973, Đoàn 173 đã nghiên cứu, thiết kế, thi công hoàn chỉnh bệ thứ nhất. Hội đồng nghiệm thu Quân chủng do đồng chí đại tá Nguyễn Bá Phát - Tư lệnh Hải quân làm Chủ tịch kết luận:
“Việc cải tiến tên lửa đã bảo đảm được các yêu cầu kỹ thuật, chiến thuật và chỉ thị cho Đoàn 173 cùng các đơn vị tiếp tục cải tiến bệ thứ 2”.
Yêu cầu lắp tên lửa P-15 lên bệ phóng SA-2 là chưa từng có tiền lệ
Ngày 7/12/1973, sau cuộc họp triển khai cải tiến. Hội nghị thống nhất phân công: Xưởng 28 thi công làm máng, đường trượt, cải tiến bệ phóng, Cục Kỹ thuật nghiệm thu. Hệ thống thông tin hai chiều do Phòng Thông tin thực hiện, Đoàn 173 nghiệm thu.
Phòng Quân lực Bộ Tham mưu đã đề nghị Bộ Quốc phòng cung cấp các trang bị như bệ phóng SA-2, xe xích Kraz, máy phát điện... để phục vụ cải tiến.
Cục Kỹ thuật được Bộ Tư lệnh ủy quyền phê duyệt kế hoạch, dự trù kinh phí, cùng Đoàn 173 chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình thi công.
Sau một năm nghiên cứu, thi công cải tiến và thử nghiệm, đến tháng 10/1974, Bộ Tư lệnh tổ chức bắn thử nghiệm cả 2 bệ, mỗi bệ 1 quả P-15 đã tháo ngòi nổ vào tàu bia neo cố định ở vùng biển Đồ Sơn ở cự ly 13,5 hải lý (cự ly tối ưu).
Kết quả bắn: 2 bệ đều quay tầm hướng, tên lửa trượt trên rãnh bệ tốt, cả 2 quả P-15 đều trúng mục tiêu, 1 quả trúng dàn phản xạ, 1 quả xuyên qua tàu bia. Nhiệm vụ Z1 thành công, mở ra khả năng chiến đấu mới của Quân chủng.
Việc đưa thành công tên lửa P15 lên bệ phóng SA-2 đã mở ra khả năng chiến đấu mới của Hải quân Việt Nam. Ảnh minh họa.
Dự án lắp tên lửa P-15 lên khu trục hạm chiến lợi phẩm
Sau này khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Tư lệnh Hải quân có chủ trương nghiên cứu cải tiến đưa lên lửa P-15 lắp xuống tàu HQ-01.
Tàu HQ-01 nguyên là khu trục hạm HQ-15 Phạm Ngũ Lão của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trước đây. Nhiệm vụ này tiếp tục được Quân chủng giao cho Đơn vị 173.
Chiến hạm HQ-01 khi còn là HQ-15 của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa
Năm 1976, đơn vị bắt đầu đưa toàn bộ hệ thống chỉ huy, bệ tên lửa xuống tàu, lắp thêm 1 bộ radar SPS-53 của Mỹ trên mặt boong chính để lấy số liệu phần tử bắn.
Ngoài ra tàu còn được mở rộng một phòng trên boong trung tâm để đặt thiết bị điều khiển, tăng cường gia cố khung xương và mặt boong tàu...
Cuối năm 1977 thì công việc thi công hoàn chỉnh. Đến ngày 30 Tết âm lịch Mậu Ngọ 1978, Bộ Tư lệnh tổ chức bắn thử nghiệm vào đảo Hòn Tý, một đảo nhỏ trong quần đảo Phú Quý.
Kết quả sau khi tên lửa được bắn đi, đạn đã trúng mục tiêu. Tư lệnh Giáp Văn Cương đánh giá cao kết quả quá trình nghiên cứu cải tiến tên lửa P-15 đạt hiệu quả tốt và tặng bằng khen cho các đồng chí cán bộ, kỹ sư tham gia thực hiện đề án này.
Như vậy, ngay từ thời điểm cuối những năm 1970, Hải quân nhân dân Việt Nam đã có trong tay tàu tên lửa cỡ vừa đủ khả năng hoạt động tại quần đảo Trường Sa chứ không phải là tới tận năm 1999 khi những chiếc Molniya Dự án 1241.RE đầu tiên về nước.
Trong bài có sử dụng tư liệu lấy từ sách "Lịch sử ngành kỹ thuật Hải quân Nhân dân Việt Nam - Tập 1"
theo Đại Lộ_Phi Yến | 
http://soha.vn/quan-su/ten-lua-p-15-va-2-du-an-cai-tien-vu-khi-doc-dao-cua-hai-quan-vn-20141210151741186.htm

Tên lửa đối hạm Liên Xô và Nga trong các trận hải chiến.

12:58 PM |

(Soha.vn) - P-15 Termit là tên lửa đối hạm duy nhất của Liên Xô và Nga đã trải qua thực chiến nhưng đồng thời lại là tên lửa đối hạm dày dạn chiến công nhất thế giới.


Lần tham chiến đầu tiên của tên lửa P-15 Termit xảy đến không lâu sau cuộc chiến Sáu Ngày năm 1967, trong suốt cuộc chiến được gọi là “Chiến tranh tiêu hao” khi lực lượng vũ trang của Israel và Ai Cập liên tục đụng độ xung quanh khu vực bán đảo Sinai.
Vào ngày 21/10/1967, khu trục hạm Eliat của Israel khi tiến hành nhiệm vụ tuần tra chiến đấu đã phạm phải sai lầm khi tiến đến quá gần cảng Said. 2 tàu tên lửa lớp Komar của Ai Cập vũ trang với 2 tên lửa P-15 mỗi chiếc đã khai hỏa 4 tên lửa từ vị trí bên trong bến cảng, 3 tên lửa đầu tiên đã đánh trúng mục tiêu khiến tàu khu trục của Israel bị bẻ gãy làm đôi và nhanh chóng chìm xuống nước. Tên lửa P-15 thứ tư khi bay đến nơi thì mục tiêu của nó chỉ còn là những mảnh vỡ nhỏ. Thất bại này là một cú sốc lớn cho lực lượng hải quân Israel nhưng cũng thúc đẩy họ nhanh chóng phát triển những biện pháp đối phó lại tên lửa chống tàu.
Tàu tên lửa Komar
Theo nguồn tin đặc biệt từ các chuyên gia quân sự Nga là A.E. Taras và A. Shirokorad thì chiến công khác của tên lửa P-15 đến vào đúng 1 năm sau đó. Vào ngày 21/10/1968, các tàu Osa của Ai Cập đã phóng một loạt tên lửa P-15 để đánh chìm “tàu buôn" 10.000 tấn của Israel được hoán cải thành tàu do thám. Cuộc đụng độ này được báo cáo là diễn ra ở gần bờ biển Ai Cập, tuy nhiên thông tin này sau đó đã không được Phương Tây xác nhận.
Trong suốt cuộc chiến Yom Kippur (Ngày Sám hối của người Do Thái) diễn ra vào năm 1973, P-15 thu được rất ít thành công. Theo nguồn tin phương Tây thì từ ngày 6 đến 12/11/1973 đã có tới 54 tên lửa P-15 được bắn đi nhưng đều không có kết quả. Điều này cũng được các chuyên gia Nga xác nhận và họ cũng xác nhận cả việc có 7 tàu Ai Cập và Syria bị bắn chìm, chủ yếu là các tàu nhỏ như tàu đánh cá, tàu tuần tra và xuồng tên lửa, các tàu-xuồng này đều bị bắn chìm bởi tên lửa Gabriel Mk1 của Israel.
Tên lửa đối hạm Gabriel Mk1
Cuộc chạm trán đầu tiên của cuộc chiến tranh Yom Kippur xảy ra trong đêm ngày 6 và 7/10/1973 gần Latakia trên bờ biển Syria. Hải quân Israel sử dụng máy bay trực thăng bay chậm tại độ cao rất thấp để mô phỏng mục tiêu tàu hải quân. Không có tàu chiến Israel nào bị bắn trúng sau loạt tên lửa P-15 của Syria trong khi chính họ lại bị mất 1 tàu T-34 lớp Jarmuk và 3 tàu phóng lôi bởi các tên lửa Gabriel. Những tàu tên lửa Syria sau đó đã phải rút lui, họ không kịp nhận ra các tên lửa của mình đã bị đánh lừa bởi mục tiêu giả là trực thăng của Israel. Cùng đêm, một thủ đoạn tương tự được lặp lại trong cuộc đụng độ giữa hải quân Israel với hải quân Ai cập ở phía bắc bán đảo Sinai.
Vào đêm ngày 10 và 11/10/1973, gần Latakia đã xảy ra một trận bắn tên lửa qua lại giữa những tàu chiến Israel và Syria mà không có sự tham gia của máy bay trực thăng. Các tàu chiến Syria dàn quân bên ngoài bến cảng của họ dọc theo những tàu hàng. Trong trận chiến này, tên lửa Gabriel đã đánh chìm 2 chiến hạm của Syria nhưng cũng đánh trúng cả tàu hàng của các nước trung lập đang neo trong cảng (Tàu Tsimentaros của Hy Lạp và Maru Yamashuro của Nhật).
Theo nguồn tin Israel thì tất cả các tàu của họ đều an toàn nhưng thực tế trong trận này có ít nhất 1 tàu tên lửa Sa’ar bị đánh chìm (nguồn tin Nga nói là có 3 chiếc). Vào đêm hôm sau, thủ đoạn máy bay trực thăng lần nữa được sử dụng một cách thành công trong cuộc chạm trán gần Tartus, ngoài bờ biển Syria. Đã không có tàu Israel nào bị đánh trúng bởi loạt tên lửa P -15 được bắn đi từ các tàu của Syria. Bên phía Syria, 2 tàu tên lửa Komar bị chìm bởi tên lửa Gabriel và 1 tàu hàng của Liên Xô, chiếc Ilya Mechnikov cũng bị đánh trúng. Vào cùng đêm, một cuộc chạm trán tương tự đã xảy ra gần bờ biển cảng Said.
Tàu tên lửa Sa'ar 2
Từ kinh nghiệm cuộc chiến Yom Kippur, Liên Xô nhận ra tính dễ tổn thương của tên lửa P-15 trước các biện pháp đối phó chủ động và bị động của đối phương. Những điều chỉnh đã được triển khai để cho ra đời phiên bản P-15U và phiên bản P-15T được bổ sung đầu dò hồng ngoại nhằm tăng xác suất bắn trúng mục tiêu cho tên lửa. Điều này đã được chứng minh trong cuộc xung đột giữa Pakistan và Ấn Độ vào tháng 12/1971.
Trong đêm mùng 3 và 4/12/1971 các tàu Osa của hải quân Ấn Độ làm nhiệm vụ cách Bombay 900 km gần khu vực Karachi đã bắn 11 tên lửa đối hạm (7 P-15U và 4 P-15T) và thu được kết quả khá tốt. Trong cuộc tấn công, 1 khu trục hạm của Pakistan chiếc Khaiba và 1 tàu đánh cá chiếc Muhafiz đã bị bắn chìm. Chiếc Khaiba bị chìm sau khi trúng 2 tên lửa P-15U còn chiếc Muhafiz thì bị chìm ngay sau khi trúng 1 tên lửa cùng loại. Tàu Osa tên Nighat của Ấn Độ đã được ghi nhận là đã bắn chìm tàu Khaiba trong khi chị em của nó, chiếc Veer đã bắn chìm Muhafiz. Chỉ có 70 trên 289 thủy thủ của Pakistan được cứu sống.
Tàu tên lửa Osa-I
Cũng trong cuộc chiến này đã ghi nhận việc lần đầu tiên tên lửa đối hạm P-15 được sử dụng để tấn công mục tiêu trên đất liền. Vào ngày 4/12/1971 nhà máy lọc dầu ở Keamari đã bị tấn công, những bồn chứa dầu lớn bị hun nóng bởi ánh mặt trời vào ban ngày nên ban đêm chúng phát ra nhiệt. P-15T với đầu dò hồng ngoại đã bắt được mục tiêu và gây ra khá nhiều thiệt hại.
Cuộc tấn công bằng tên lửa P-15 thứ hai diễn ra 4 ngày sau đó, vào ngày 8/12/1971, tàu Vinash lớp Osa đã khai hỏa bốn tên lửa gồm 1 P-15T và 3 P-15U. Theo phía Pakistan, tên lửa đầu tiên lướt qua những tàu neo tại bến, bay dọc qua đảo Manora và đánh trúng bồn chứa dầu tại nhà máy lọc dầu Keamari. Còn lại 3 tên lửa dẫn bởi radar P-15U đã đánh trúng 3 tàu khác được neo ở Manora, 2 trong số chúng là những tàu hàng: Harmattan (Anh) và Gulf Star (Panama). Chiếc đầu tiên bị chìm còn chiếc kia bị hư hỏng nghiêm trọng. Tàu thứ 3, chiếc Dacca vẫn sống sót mặc dù bị đánh trúng thùng chứa dầu.
Trong cuộc chiến tranh Iran - Iraq quân đội Iran đã sử dụng tên lửa HY-2 (bản sao của P-15 do Trung Quốc sản xuất) để khống chế vịnh Ba Tư và cũng thu được một số thành công nhất định. Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh, Iraq cũng đã bắn 2 quả HY-2 vào chiếc USS Missouri nhưng một quả đã bị tên lửa Sea Dart đánh chặn còn quả kia trượt mục tiêu. Lần gần đây nhất tên lửa P-15 được sử dụng bởi quân đội Lybia khi họ bắn tên lửa P-15 mà không có radar dẫn đường vào một tàu chiến của Italy đang làm nhiệm vụ phong tỏa bờ biển, tên lửa đã đi chệch mục tiêu tới 2 km.
Tên lửa P-15 với nhiều nhược điểm như kích thước lớn, tốc độ chậm, bay hành trình cao, cơ động kém, dễ bị gây nhiễu tỏ ra không còn phù hợp trong tác chiến hải quân hiện đại và đang được nhiều nước thay thế bằng những loại tên lửa diệt hạm tiên tiến hơn. Có lẽ chúng ta sẽ khó mà được nhìn thấy một lần tham chiến nào khác của tên lửa P-15 Termit trong thế kỷ 21 này.
(Theo Russian/Soviet Sea Based Antiship Missile)
theo Trí Thức Trẻ_Dương Phạm | 

Trận đánh ngoạn mục của tên lửa chống hạm

12:51 PM |

Ngày 21/10/1967, 4 quả tên lửa chống hạm P-15 Termit phóng từ các tàu tên lửa Projekt 183R Komar của Ai Cập đã đánh đắm tàu khu trục INS Eilat của Hải quân Israel.



Tên lửa hành trình chống hạm, loại vũ khí khủng khiếp trong chiến tranh hải quân hiện đại xuất hiện cách đây không lâu lắm, mặc dù ý tưởng chế tạo các phương tiện bay không người lái dùng để tiêu diệt tàu địch đã xuất hiện từ thời Thế chiến II. Vũ khí chống hạm chuyên dụng đầu tiên do người Đức chế tạo ra. Vào năm 1943, họ đã sử dụng thành công bom liệng/tên lửa Henschel Hs 293.
Sau đó, quyền chủ động trong nghiên cứu chế tạo tên lửa hành trình chống hạm chuyển sang tay Liên Xô trong một thời gian dài. Kể từ thập niên 1940, các nghiên cứu tiên phong đã được tiến hành trên hướng này ở Liên Xô, tại Viện thiết kế Raduga dưới sự lãnh đạo của công trình sư trưởng A. Ya. Bereznyak.
Vào giữa thập niên 1950, Viện Raduga đã phát triển thành công tên lửa hành trình chống hạm đầu tiên trên thế giới P-15 Termit (4K40), còn NATO gọi là SS-N-2 Styx, loại tên lửa đã làm nên một cuộc cách mạng thực sự trong chiến lược hải quân.
P-15 Termit có trọng lượng 2.125 kg, được lắp động cơ khởi tốc nhiên liệu rắn và động cơ hành trình tên lửa nhiên liệu lỏng, phần chiến đấu chứa 375 kg thuốc nổ và thậm chí đã dự tính cả khả năng trang bị đầu đạn hạt nhân. Đầu tự dẫn hồng ngoại Kondor hoạt động ở giai đoạn bay cuối, bảo đảm cho tên lửa bắn trúng tàu mục tiêu ở cự ly đến 40 km.
Sau nhiều lần thử nghiệm, tên lửa chống hạm P-15 Termit đã được nhận vào trang bị của Hải quân Liên Xô vào năm 1960. P-15 đã được trang bị cho các tàu khu trục, tàu chống ngầm và các tàu tên lửa thiết kế riêng như các tàu tên lửa nhỏ lớp Projekt 183-R Komar và Projekt 205 Osa.
Phóng P-15. Ảnh: Army-news
Đánh chìm tàu khu trục INS Eilat
Ngày 21/7/1967, tàu khu trục INS Eilat cùng 199 thành viên thủy thủ đoàn đang thực hiện chuyến tuần tra dọc bờ biển bán đảo Sinai mà người Israel chiếm được của Ai Cập trong cuộc chiến tranh sáu ngày vào tháng 6/1967.
Eilat từng có quá khứ chiến trận lẫy lừng. Được hạ thủy tại Anh vào năm 1943, với cái tên HMS Zealous trong biên chế Hải quân Hoàng gia Anh, tàu đã tham gia áp tải các đoàn tàu vận tải ở Bắc Cực, chuyên chở vũ khí và quân dụng đến cảng Murmansk của Liên Xô.
Tàu khu trục INS Eilat của Hải quân Israel. Ảnh: weaponscollection.com
Năm 1955, Israel đã mua lại tàu khu trục này từ nước Anh. Với tên gọi INS Eilat, tàu được đưa vào biên chế Hải quân Israel. Ngày 31/10/1956, trong cuộc khủng hoảng kênh đào Suez, Eilat đã xuất sắc lập công khi xông vào đánh cận chiến và bắt sống tàu khu trục Ibrahim el Awal của Ai Cập khi tàu này dại dột mò vào gần cảng Haifa của Israel để pháo kích. Đây là trận đánh chưa từng có trong lịch sử hải quân hiện đại.
Hồi đó, các thủy binh Israel đã đổ bộ lên boong tàu chiến Ai Cập, bắt thủy thủ đoàn làm tù binh và dẫn tàu này về cảng Haifa. Không lâu sau, tàu khu trục Ibrahim el Awal bị chiếm giữ đã được đưa vào biên chế Hải quân Israel với tên gọi Haifa. Vào tháng 7/1967, Eilat đã dùng hỏa lực pháo bắn chìm 2 tàu phóng lôi Ai Cập.
Nhưng lần này, may mắn đã quay lưng với chiếc khu trục Israel. Chiều 21/10/1967, trong chuyến tuần tra, Eilat chạy dọc bờ biển phía bắc bán đảo Sinai, tiến lại gần cảng Port Said của Ai Cập và nhanh chóng bị một đài radar Ai Cập phát hiện. Thuyền trưởng Eilat, trung tá Yitzhak Shoshan chỉ lo ngại tàu ngầm nên cho tàu cơ động dích dắc để đối phó. Ban đầu, ông thậm chí không để ý đến 2 tàu nhỏ đang tuần tra trên biển mà radar phát hiện được.
Vào hồi 17 giờ 25 phút, khi tàu Eilat ở cách Port Said khoảng 14 hải lý, một tàu tên lửa Komar của Ai Cập đang ở trong bến cảng Port Said đã phóng đi quả tên lửa chống hạm P-15 đầu tiên. Lúc đó, Eilat đang chạy theo hướng ngược lại theo lệnh của thuyền trưởng. Sau khi phát hiện tên lửa, thuyền trưởng hạ lệnh báo động và lại cho tàu chạy dích dắc, đồng thời cho các pháo tự động 40 mm bắn ào ạt vào các tên lửa đang bay tiếp cận, nhưng vô ích. Các tên lửa kiên trì bám theo con tàu.
Tàu tên lửa lớp Komar của Ai Cập đang phóng tên lửa P-15. Ảnh: raspletin.ru
Quả P-15 đầu tiên bắn trúng mạn tàu ở gần khoang máy của chiếc tàu khu trục Israel. Bốn phút sau, quả thứ hai đánh trúng mạn trái tàu Eilat, chỗ khoang nồi hơi. Dù tàu bị thương nặng, thuyền trưởng tàu Eilat, trung tá Yitzhak Shoshan dẫn đầu thủy thủ đoàn đã kiên cường tranh đấu vì sự sống của con tàu. Bất chấp những nỗ lực tuyệt vọng cứu tàu của thủy thủ đoàn, Eilat bắt đầu chìm.
Nhưng vào hồi 19 giờ 40, tàu lại bị quả P-15 thứ ba đánh trúng phần mũi. Eilat bùng cháy, đạn dược trên tàu bắt đầu phát nổ. Chiếc tàu khu trục vỡ đôi và chìm nhanh.
Thuyền trưởng Shoshan hạ lệnh cho thủy thủ đoàn rời con tàu đang chìm. Nguy hại nhất cho thủy thủ đoàn tàu Eilat là quả P-15 thứ tư khi nó nổ trong nước, giữa các xuồng và bè cứu sinh khi mà thân con tàu Eilat đã gần như biến mất dưới mặt nước. Do sóng thủy động, nhiều thủy binh Israel đang ở trên các phương tiện cứu hộ đã bị thiệt mạng. Cuộc tấn công tên lửa đã làm chết 47, bị thương 91 người, kể cả thuyền trưởng Yitzhak Shoshan, trong tổng cộng 199 thủy binh thủy thủ đoàn.
Tham gia chiến dịch cứu nạn kéo dài gần 20 giờ dưới mưa đạn của quân Ai Cập có các trực thăng, tàu phóng lôi Israel và họ đã cứu thoát được những thủy binh còn sống sót và lượm được xác của những người đã hy sinh.
Đánh chìm tàu khu trục Eilat là trường hợp đầu tiên sử dụng thành công tên lửa hành trình chống hạm trong lịch sử hải quân thế giới. Nó đã mở ra một kỷ nguyên mới trong chiến lược hải quân và trong sự phát triển vũ khí hải quân. Sự kiện này đã trở thành cú sốc mạnh đối với chuyên gia hải quân nhiều nước. Ngay sau đó Mỹ và phương Tây lao vào cuộc đua tên lửa chống hạm và tàu tên lửa.
Các thủy thủ Israel trong trận đánh ở Latakia. Ảnh: haaretz.co.il
Trận giao đấu giữa các tên lửa chống hạm P-15 và Gabriel
Israel rất đau xót vì tổn thất tàu Eilat. Hải quân Israel quyết định phát triển một loại tên lửa hành trình chống hạm có khả năng vô hiệu hóa P-15. Vào năm 1970, Hải quân Israel đã nhận vào trang bị tên lửa hành trình chống hạm Gabriel. Tuy nhiên, xét về tính năng chiến-kỹ thuật, Gabriel thua xa đối thủ P-15 vì chỉ có tầm bắn không quá 20 km và mang phần chiến đấu chỉ nặng có 180 kg.
Nhưng nhược điểm đó đã được bù đắp phần nào bởi các phương tiện tác chiến điện tử lắp trên tàu chiến Israel. Các phương tiện đó có khả năng gây nhiễu đối với các hệ thống dẫn đường trên tên lửa Liên Xô và làm chúng bay chệch mục tiêu đã định.
Trận đánh đầu tiên trong lịch sử hải quân thế giới mà các bên đối kháng đều sử dụng tên lửa hành trình chống hạm đã xảy ra trong cuộc chiến tranh Yom Kippur, vào ngày 6/10/1973.
Chỉ hai giờ sau khi chiến tranh bùng nổ, vào hồi 17 giờ 00, ngày 6/10, một biên đội tàu tên lửa dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Michael Barkai đã rời căn cứ hải quân ở Haifa và chạy nối đuôi nhau thành hai hàng dọc tiến đến cảng Latakia của Syria với ý định tấn công cảng này.
Biên đội tàu Israel gồm 5 tàu tên lửa: Miznak, Ga’ash, Hanit, Mivtach và Reshef đều trang bị tên lửa chống hạm Gabriel.
22 giờ 28, biên đội tàu Israel bước vào giao chiến với tàu phóng lôi K-123 của Syria đang cảnh giới cách cảng Latakia 50 km. Tàu chiến Israel dùng pháo 76 mm bắn vào tàu K-123 từ cự ly 10 km làm tàu này bị thương, nhưng đồng thời hoạt động của biên đội tàu Israel cũng bị đối phương phát hiện.
Để tàu tên lửa Hanit ở lại đánh tiếp tàu K-123 đã bị thương, Đô đốc Barkai quyết định chạy thẳng tới Latakia mà không thực hiện các thao tác cơ động phức tạp để đánh lừa radar địch.
Phía Syria cũng lập tức phản ứng với sự tiếp cận của biên đội tàu tên lửa Israel. Tàu quét lôi Yarmuk của Syria đang tuần tra các tuyến tiếp cận căn cứ hải quân Syria nhận được lệnh khẩn cấp chạy về Latakia dưới sự bảo vệ của các khẩu đội pháo. Nhưng tàu Yarmuk đã không kịp chạy xa, nó đã bị 2 quả tên lửa Gabriel phóng từ tàu tên lửa Reshef của Israel đánh chìm.
Ba tàu tên lửa Syria gồm 2 tàu lớp Komar và 1 tàu lớp Osa xuất phát từ Latakia lao nhanh tới chặn đánh biên đội tàu Israel.
Trên màn hình các radar Israel nhanh chóng xuất hiện 6 đốm sáng đang tiến gần lại rất nhanh - đó là 6 quả tên lửa P-15 được phóng từ các tàu tên lửa Syria. Để đối phó với P-15, các thủy thủ Israel lập tức dùng đến hệ thống chế áp điện tử làm cho các radar trên các tàu Syria và các hệ dẫn tên lửa P-15 bị hỗn loạn. Tất cả các tên lửa P-15 đều nổ tung phía sau đuôi các tàu tên lửa Israel.
Các tàu chiến Israel thần tốc tiếp cận các tàu địch để vào tuyến phóng tên lửa Gabriel. Hồi 23 giờ 30, các tàu Israel phóng đi các quả tên lửa, đánh đắm 1 tàu Osa và 1 tàu Komar, còn 1 tàu tên lửa Syria còn lại bị thương và cố gắng bỏ chạy, nhưng lại bị mắc cạn ở ven bờ.
Bất chấp hỏa lực của các khẩu đội pháo bờ biển Syria, tàu tên lửa Miznak của Israel vẫn tiếp cận cách tàu tên lửa Syria bị mắc cạn 1 km. Vào hồi 00 giờ 20, con tàu Syria cuối cùng này đã bị tàu Miznak dùng pháo bắn trực diện tiêu diệt.
Tàu tên lửa INS Chamak (K95) của Hải quân Ấn Độ phóng một tên lửa P-15 Termit. Ảnh: Wikipedia
Trận đánh đầu tiên trong lịch sử hải quân mà các bên tham chiến đều sử dụng tên lửa hành trình chống hạm đã diễn ra như vậy.
Như vậy, trận đánh đầu tiên của P-15 cho thấy vai trò của tên lửa chống hạm trong hải chiến hiện đại. Còn trận đánh Latakia, nơi lần đầu tiên trong lịch sử hải quân hai bên tham chiến đều sử dụng tên lửa chống hạm, lại khẳng định vai trò quyết định vẫn là yếu tố con người, trí tuệ sáng tạo, tinh thần dũng cảm và sự táo bạo có thể bù đắp cho những thua sút về vũ khí.
theo Vietnamdefence_26/04/2014 10:51
http://soha.vn/quan-su/tran-danh-ngoan-muc-cua-ten-lua-chong-ham-20140426102915739.htm

Tên lửa diệt hạm Rubezh 'gác' Biển Đông.

7:58 AM |
TPO - Tổ hợp tên lửa chiến dịch – chiến thuật chống tầu Redut, là một tổ hợp tên lửa hạng nặng, có tầm bắn rất xa và đầu đạn có uy lực lớn...


Tên lửa diệt hạm Rubezh 'gác' Biển Đông
TPO - Tổ hợp tên lửa chiến dịch – chiến thuật chống tầu Redut, là một tổ hợp tên lửa hạng nặng, có tầm bắn rất xa và đầu đạn có uy lực lớn...
Vào cuối những năm 1960x, trong biên chế của lực lượng phòng thủ bờ biển Hải quân Xô Viết vũ khí khí tài chủ lực là Tổ hợp tên lửa chiến dịch – chiến thuật chống tầu Redut, là một tổ hợp tên lửa hạng nặng, có tầm bắn rất xa và đầu đạn có uy lực lớn, trên mỗi xe bệ phóng tên lửa chỉ có một đạn và phải có các phương tiện mang khí tài chiến đấu đi cùng. Lực lượng phòng thủ bờ biển cần một tổ hợp năng động hơn đồng thời tầm bắn cũng gần hơn.
Tên lửa hành trình chống tàu cận âm P-15 Termit (NATO định danh là SS-N-2) do Liên Xô sản xuất được trang bị trong quân chủng hải quân Việt Nam. P-15 Termit lắp đầu đạn thuốc nổ nặng tới 454 kg, tầm bắn 80 km, tốc độ hành trình cận âm. Tên lửa P-15 Termit trang bị trên nhiều phương tiện chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam. Trong ảnh là bộ đội hải quân đang triển khai nạp đạn P-15 Termit lên bệ phóng tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển 4K51 Rubezh.
Tên lửa P-15 Termit cũng được trang bị cho tàu cao tốc tên lửa Osa II của hải quân Việt Nam. Trong ảnh là kỹ thuật viên nạp đạn P-15 lên bệ phóng tàu tên lửa..
Vào năm 1970, tập đoàn chế tạo tên lửa cấp chiến thuật MKB “Raduga” được giao nhiệm vụ phát triển tổ hợp tên lửa cấp chiến thuật mới. Để phát triển tổ hợp tên lửa bờ biển này, các nhà phát triển vũ khí đã lựa chọn tên lửa chiến thuật chống tầu P-15M “Termit”, phát triển từ lớp tên lửa P-15 chống tầu. Các tổ hợp tên lửa hạng nhẹ nhỏ gọn với ống phóng dạng container KT-161 với rãnh phóng bằng 0 sẽ thay thế các tổ hợp nặng nề kiểu Redut ở tầm gần. Hai ống phóng containers cùng với cabin điều khiển hỏa lực và radar dẫn bắn "Harpoon" được bố trí trên khung gầm xe MAZ – 543.
Những nhà thiết kế chính của tổ hợp là A.M. Krylov, Y. A.Afanasyev, V.N. Barannikov. Khi chế tạo tổ hợp tên lửa có sự tham gia của V.I. Utrobin, V.M.Egorov, B.I.Comissarov, P.A.Los, M.B.Gryaznov và những người khác. Các ống phóng kép được phát triển dưới sự chỉ đạo của N.K. Tsikunov. Tổ hợp tên lửa Rubezh với tên lửa nâng cấp Termit – P được biên chế vào lực lượng Hải quân Xô Viết ngày 22/10/1978. Vào khoảng nửa đầu thập niên 80 tổ hợp được nâng cấp – các ống phóng kép 3P51M được lắp đặt lên thân xe MAZ – 543M. Tổ hợp tên lửa Rubezh được xuất khẩu vào nhiều nước khác nhau Ukraine, Nam Tư, Bulgaria, Đức, Cuba, Algeria, Libya, Syria, Yemen, Romania, Việt Nam. Mã hiệu của tên lửa định danh theo NATO là SS-N-2C (Surface-to-Surface hải quân Loại 2 phương án 3).


Xe tên lửa.
Trang thiết bị khí tài tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Rubezh:
Xe tên lửa phóng đạn tự hành 3P51 (3P51М)
Tên lửa chống tầu P-15М (P-21 / PP-22)
Xe vận tải tên lửa
Để có thể quan sát tầm xa trên biển, tổ hợp có thể được trang bị radar trinh sát, cảnh báo sớm tầm xa, được lắp đặt trên khí tài có trục nâng thủy lực tầm cao 40V6 (được sử dụng từ hệ thống tên lửa phòng không S-300P.
Hệ thống phóng tên lửa được lắp đặt trên khung gầm xe bánh hơi có khả năng cơ động cao loại МАZ-543 (МАZ-543М) với sát xi tám cầu và tám bánh lốp. Trên xe phóng tên lửa có lắp đặt cabin điều khiển phóng tên lửa với đài radar quan sát, dẫn bắn Harpoon, động cơ phát điện gas turbin, sàn quay bệ phóng tên lửa và hai thùng phóng tên lửa container KT-161. Trong các thùng phóng tên lửa có 2 tên lửa chống tầu loại P-15M (P-21/P-22) – một tên lửa lắp đầu tự dẫn bằng radar chủ động, một tên lửa lắp đầu tự dẫn hồng ngoại. Xe phóng tên lửa hoạt động hoàn toàn độc lập và có thể chủ động giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu độc lập như tìm kiếm và tiêu diệt các mục tiêu chiến hạm nổi trên mặt nước.
Trang thiết bị gồm có: Các thiết bị điều khiển bắn, hệ thống nhận biết địch – ta, trang thiết bị thông tin liên lạc nội bộ và đài thông tin liên lạc vô tuyến. Radar "Harpoon" được sử dụng để phát hiện mục tiêu trên biển và điều khiển bắn và là một biến thể của các radar trinh sát chủ động gắn trên tàu tên lửa. Anten của radar nhờ hệ thống thủy lực trong trạng thái chiến đấu có thể nâng đến độ cao 7,3m, khi cơ động, cần anten thu lại trong các ống thủy lực ở phía trước của cabin điều khiển. Thời gian chuyển trạng thái từ cơ động sang sẵn sàng chiến đấu là 5 phút.


Các ống phóng đạn container КТ-161 trong trạng thái cơ động cửa ống phóng quay về phía sau (ngược hướng cơ động) khi chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu, giá đỡ quay một góc về hướng bắn (bất kỳ hướng nào) đến 110o và đưa vào góc nâng phóng đạn là 20o. Ống phóng đạn có các rãnh phóng đạn bằng không so với độ dài của đạn và máng trượt dành cho động cơ đẩy phản lực nhiên liệu rắn. Cabin công tác được lắp đặt các trang thiết bị điện tử, trang thiết bị radar và vị trí công tác của trắc thủ. Đông cơ phát điện turbin khí dùng để cấp điện cho trang thiết bị thân xe và hệ thống phóng tên lửa.



Tên lửa P-15М (P-21 / P-22) "Теrmit" là tên lửa tăng tầm bắn được nâng cấp và hoàn thiện từ tên lửa P-15U. Tên lửa P-15M có cánh ổn định không dài được gấp lại khi ở trạng thái cơ động
Trong ống phóng container, khí ra khỏi ống phóng, tên lửa sẽ mở cánh gập ra để ổn định đường bay. Ba cánh đuôi hình tam giác với góc mở 120 độ lắp các cánh lái điều khiển. Các cánh đuôi là cánh cứng liền với thân tên lửa. Động cơ hành trình tên lửa là động cơ phản lực sử dụng nhiên liệu lỏng. Động cơ khởi động tăng tốc của tên lửa được gắn vào phía đuôi của tên lửa ở phía dưới.
Tên lửa có hệ thống điều khiển đạo hàng quán tính trong giai đoạn bay hành trình trên biển và hai phương án đầu đạn tự dẫn tên lửa ở giai đoạn cuối – giai đoạn tự dẫn: tự dẫn bằng radar chủ động hoặc đầu đạn tự dẫn hồng ngoại loại "Snegir-M". Đầu đạn tên lửa có thể nạp khối nổ thuốc nổ thường 513 kg hoặc đầu đạn hạt nhân có đương lượng nổ 15 Kt. Trần bay hành trình tên lửa so với mặt nước biển có thể là 25 – 50 – 250 m được quyết định và nạp vào máy tính trên tên lửa trước khi phóng.
Tại khu kỹ thuật của đơn vị, tiến hành công tác chuẩn bị tên lửa và nạp đạn vào ống phóng. Các xe phóng tên khi có lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu sẽ cơ động ra tuyến phòng thủ bờ biển chiếm lĩnh trận địa phòng ngự ven biển. Tại trận địa các xe tên lửa sẽ sử dụng hệ thống thủy lực nâng cần an ten lên độ cao cần thiết, quay giá đỡ ống phóng tên lửa về hướng phóng đạn và đưa các ống phóng tên lửa về tư thế chuẩn bị phóng đạn với góc nâng 20o. Trắc thủ qua màn hình radar phát hiện mục tiêu cần tiêu diệt, xác định tọa độ mục tiêu và nạp tọa độ mục tiêu vào bộ nhớ máy tính tên lửa, sau đó theo mệnh lệnh người chỉ huy phóng đạn diệt mục tiêu.
Tên lửa được phóng đi nhờ lực đẩy của động cơ tăng tốc phản lực về hướng mục tiêu, sau khi ra khỏi ống phóng đạn, động cơ hành trình phản lực nhiên liệu lỏng khởi động. Đồng thời cánh gấp tên lửa mở ra, cải bằng cho tên lửa. Với động cơ tăng tốc phản lực, tên lửa lấy độ cao và tốc độ hành trình. Sau khi động cơ phản lực tăng tốc đốt cháy hết nhiên liệu sẽ tự động rơi khỏi tên lửa. Tên lửa bay với động cơ nhiên liệu lỏng và hạ xuống độ cao hành trình. Hệ thống đạo hàng quán tính duy trì độ cao, tốc độ và quỹ đạo đường bay của tên lửa.


Khi tên lửa tiếp cận khu vực mục tiêu, đầu đạn khởi động hệ thống dẫn đường tự động. Đầu dẫn sẽ khóa mục tiêu và điều khiển tên lửa bay về hướng mục tiêu. Trước khi tiếp cận, tên lửa cơ động lên cao theo mô hình “leo dốc” và tấn công mục tiêu từ trên xuống. Bộ phận gây nổ sẽ kích hoạt khối nổ khi va chạm với mục tiêu.
Nạp đạn cho xe phóng tên lửa được thực hiễn với những thang ray nạp. Được mang theo xe trên các ống phóng đạn container. Khi nạp đạn, xe cẩu sẽ cẩu đạn lên thang nạp và đạn được đẩy vào ống phóng tên lửa container.
Trong biên chế của một khẩu đội tên lửa Rubezh có 4 xe phóng đạn tên lửa và 4 xe vận tải nạp đạn. Cơ số đạn trong một khẩu đội là 16 tên lửa.
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển cấp chiến dịch – chiến thuật “Rubezh” là tổ hợp hoàn toàn độc lập, có thể tự phát hiện mục tiêu mặt nước và tấn công tiêu diệt. Tên lửa được lắp loại đầu dẫn radar chủ động và đầu dẫn hồng ngoại, đồng thời với khối nổ mạnh làm tăng cường xác xuất tiêu diệt mục tiêu (chọc thủng hệ thống phòng không của đối phương) bằng loạt đạn 2 tên lửa từ một xe bệ phóng. Hoặc nhiều tên lửa (hàng loạt) từ nhiều xe bệ phóng của đơn vị tên lửa trong điều kiện địch sử dụng nhiễu tích cực và nhiễu thụ động.
Điểm hạn chế của tổ hợp là sử dụng các tên lửa có công nghệ đã lỗi thời, tên lửa có khối lượng lớn, kích thước cũng lớn. Do đó xe tên lửa có khối lượng đến 40 tấn, gây khó khăn cho cơ động nhưng chỉ mang được 2 tên lửa. Tên lửa có tốc độ không cao, do đó khả năng đột phá hệ thống phòng không của đối phương tương đối thấp. Động cơ tên lửa là phản lực nhiên liệu lỏng, gây khó khăn phức tạp khi bảo dưỡng, duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu.
Thông số tính năng kỹ chiến thuật tên lửa
Loại tên lửa
P-15М, P-21/ P-22 ("Теrmit")
Tầm bắn, km
08 - 80
Trần bay hành trình của tên lửa, m
25 / 50 / 250
Tốc độ hành trình tên lửa, km/h
1100 (М=0,9)
Tầm xa phát hiện mục tiêu, км:
-chế độ thông thường.
40
-chế độ ngoài đường chân trời
>100
Kích thước tên lửa, m:
- chiều dài
6,565 (7,5)
- sải cánh
2,5
- đường kính lớn nhất của tên lửa
0,78
Trọng lượng phóng , kg.
2 523
Loại đầu đạn
Nổ phá
Khối lượng đầu đạn, kg
513 (450 ?)
Kiểu phóng tên lửa
Phóng theo góc nghiêng từ ống phóng
Điều khiển bay
Cánh lái đuôi
Hệ thống dẫn đường đạo hàng quán tính
Hồng ngoại Shegir – M – Radar chủ động.
Tầm xa phát hiện mục tiêu, km
10-20
Động cơ hành trình
Hai chế độ phản lực nhiên liệu lỏng.
Nhiên liệu
ТG-2 ("tonka") + axit azot
Lực đẩy phản lực, kgf
1217 / 515
Động cơ tăng tốc phản lực
Động cơ tên lửa nhiên liệu rắn
Lực đẩy phản lực,kgf
29 000
Vùng quét radar, góc
360
Thân xe phóng tên lửa
Tự hành bánh hơi
Cầu xe và bánh xe
8 х 8
Khung gầm xe
МАZ-543 (МАZ-543М)
Khối lượng xe phóng tên lửa, kg
40 000 - 40 900
Kích thước toàn xe khi cơ động, m:
- Dài
14,2
- Rộng
2,97
- Cao
4,05
Loại động cơ / công suất, kW
diesel / 385
Tốc độ cực đại,km/h
60 - 65
Dự trữ hành trìn, km
625 - 635
Kíp xe.
6
Số lượng tên lửa
2
Ống phóng tên lửa
КТ-161
Kích thước ống phóng, m:
- dài
7,0
- rộng
1,8
Trịnh Thái Bằng
Đăng lại
http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/ten-lua-diet-ham%C2%A0rubezh-gac-bien-dong-623686.tpo