(Kiến Thức) - Nga đã cung cấp ít nhất 200 quả tên lửa chống hạm Kh-59MK cho Không quân Trung Quốc triển khai trên các máy bay tiêm kích Su-30MK2.
Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), tính đến cuối năm 2015, Trung Quốc đã tiếp nhận từ Nga 200 quả tên lửa chống hạm Kh-59MK theo một hợp đồng được ký từ nhiều năm trước.
Theo nguồn thông tin SIPRI, việc giao tên lửa Kh-59MK dành cho máy bay tiêm kích Su-30MK2 của Trung Quốc bắt đầu vào năm 2008. SIPRI cũng nhấn mạnh rằng, ngoài tên lửa Kh-59MK, có thể Trung Quốc đã tiếp nhận cảphiên bản nâng cấp Kh-59MK2.
Kh-59MK là biến thể chống hạm tàu mặt nước của dòng tên lửa hành trình tấn công đa năng phóng từ trên không Kh-59 Ovod (NATO định danh là AS-13 Kingbolt) do Cục thiết kế Raduga và Tập đoàn Tên lửa Chiến dịch - Chiến thuật (KTRV) hợp tác nghiên cứu, phát triển, sản xuất từ năm 1980 đến nay.
Tên lửa hành trình Kh-59 có kích thước rất lớn, với tổng trọng lượng lên tới gần 1 tấn, dài 5,7m, đường kính thân 380mm, sải cánh 130cm. Với phiên bản như Kh-59MK hay MK2 thì kích thước này không có nhiều khác biệt lắm, chủ yếu là có sự đổi khác bên trong tên lửa.
Tên lửa chống hạm Kh-59MK được thiết kế với hai loại động cơ: Một là động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy dành cho hành trình bay nằm ở dưới thân đạn; hai là động cơ nhiên liệu rắn ở đuôi đạn. Các cánh lái, ổn định nằm ở trên thân có thể gấp gọn.
Trong ảnh là động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy cỡ nhỏ trang bị cho tên lửa Kh-59MK/MK2 cho phép đạt tốc độ bay hành trình Mach 0,72-0,88.
Tên lửa Kh-59MK được trang bị đầu tự dẫn radar chủ động ARGS-59, đạt tầm bắn lên tới 285km, mang theo đầu đạn nặng 320kg đủ sức đánh hạ tàu chiến cỡ trung chỉ với một phát bắn.
Còn loại Kh-59MK2 là biến thể dùng cho tác chiến không đối đất được cải tiến đầu dò tên lửa, giữ nguyên tầm bắn.
Tháng 1/2002, Nga đã ký hợp đồng cung cấp 24 chiếc máy bay tiêm kích Su-30MK2 cho Trung Quốc. Toàn bộ số máy bay này được chuyển vào tháng 8/2004. Đây được xem là hợp đồng đầu tiên của dòng máy bay xuất khẩu Su-30MK2.
Su-30MK2 được đánh giá là tối ưu hóa mạnh cho khả năng đánh biển, chống hạm. Chính vì thế, toàn bộ 24 chiếc đều được biên chế lực lượng Không quân Hải quân Trung Quốc sử dụng.
Hoàng Lê_Cập nhật lúc: 07:30 01/04/2016 http://kienthuc.net.vn/vu-khi/soi-sat-thu-diet-ham-kh-59mk-nga-ban-200-qua-cho-trung-quoc-659097.html
Những hệ thống pháo phản lực phóng loạt do Liên Xô/Nga chế tạo, từ BM-13 Katyusha cho tới 9A52-4 Tornado là kết quả của một quá trình sáng tạo không ngừng nghỉ.
BM-13 Katyusha
BM-13 Katyusha là hệ thống pháo phản lực phóng loạt (MLRS) đầu tiên trên thế giới, được đưa vào sử dụng từ năm 1939.
Vũ khí này gồm 16 đạn rocket M13 cỡ 132 mm lắp trên ray dẫn đơn với tầm bắn 5,5 km, có thể oanh tạc một địa điểm trong thời gian rất ngắn với sức công phá cao, nhưng độ chính xác thấp và thời gian nạp đạn lâu.
Tuy vậy ưu điểm lớn nhất là rẻ tiền cộng với sức cơ động cao đã khiến Katyusha trở thành một huyền thoại của Chiến tranh thế giới II với biệt danh "Giàn đồng ca đỏ".
BM-13 có 2 phiên bản chính là giàn hạng nhẹ BM-8 cỡ 82 mm và giàn hạng nặng BM-31 cỡ 300 mm.
BM-14 là thế hệ kế tiếp của BM-13, được nghiên cứu phát triển từ năm 1947 và chính thức chấp nhận trang bị năm 1952. Phiên bản BM-14-16 gồm 16 ống phóng đơn cỡ 140 mm chia thành 2 hàng lắp trên khung gầm xe tải ZIL-151 6x6.
Loại đạn chính của tổ hợp là đạn nổ phá mảnh M-14OF có tầm bắn 2 - 10 km, mang theo đầu đạn nặng 18,8 kg. Hệ thống cần 7 - 10 giây để bắn hết loạt 16 rocket, thời gian tái nạp mất khoảng 2 phút.
BM-21 Grad
BM-21 Gradchính là hệ thống pháo phản lực phóng loạt phổ biến nhất hiện nay, hệ thống bao gồm xe tải Ural-375D hoặc Ural-4320, trên đó lắp đặt một giàn phóng đạn phản lực 40 nòng cỡ 122 mm chia làm 4 tầng ống (4x10 ống).
Hệ thống có thể bắn hết 40 quả đạn trong vòng 20 giây với chế độ bắn theo loạt vài viên hoặc bắn hết cơ số đạn.
Các loại đạn của BM-21 gồm đạn nổ phân mảnh, đạn rải mìn chống tăng, đạn rải nhiễu, đạn khói, đạn chống tăng chứa các phần tử tác chiến tự tìm mục tiêu... tầm bắn dao động từ 1,6 đến 40 km.
BM-24
Hệ thống pháo phản lực phóng loạt BM-24 được chế tạo trong giai đoạn 1947 - 1958, nó cũng sử dụng khung gầm xe tải ZIL-151 6x6 tương tự BM-14-16 nhưng mang theo tới 12 ống phóng rocket cỡ 240 mm với đầu đạn nặng 46,9 kg, tầm bắn 11 km.
Ngoài phiên bản lắp trên xe bánh hơi, BM-24 còn có biến thể lắp trên xe kéo pháo bánh xích AT-S với định danh BM-24T.
BM-25
BM-25 là hệ thống MLRS do Viện nghiên cứu khoa học số 88 (NII-88) phát triển vào năm 1953, kết cấu gồm 6 ống phóng rocket hạng nặng cỡ 250 mm. Hệ thống không được sản xuất để đưa vào trang bị đại trà.
BM-27 Uragan
BM-27 Uragan (tên định danh GRAU 9P140) là một tổ hợp MLRS hiện đại của Liên Xô và Nga, chính thức đi vào phục vụ từ năm 1975.
Hệ thống bao gồm 16 ống phóng rocket cỡ 220 mm lắp đặt trên khung gầm xe tải việt dã được hoán cải từ ZIL-135 8x8.
BM-27 Uragan có thể bắn nhiều loại đạn gồm: đạn huấn luyện, đạn nổ phá mảnh, đạn hóa học, đạn nhiệt áp, đạn chùm với chức năng chống tăng và chống bộ binh.
Tầm bắn tối đa của Uragan đạt 35 km, thời gian phóng loạt hết 20 giây, tái nạp mất 15 - 20 phút, vùng sát thương có diện tích lên tới 4,3 hecta.
BM-30 Smerch
BM-30 Smerch (NATO gọi là M1983) là hệ thống MLRS mạnh nhất hiện nay của Nga, được phát triển từ năm 1970 và chính thức vào biên chế năm 1987.
Hệ thống gồm 12 ống phóng rocket cỡ 300 mm lắp đặt trên khung gầm xe MAZ-543M, nó mang theo các cảm biến và máy tính mạnh, kết hợp với máy bay không người lái giúp tự trinh sát, tính toán và dẫn đường đầu đạn.
Các loại đạn trang bị cho Smerch gồm đạn nổ phá mảnh, đạn rải mìn, đạn cháy, đạn xuyên giáp... và đặc biệt là đạn chống tăng tự dẫn, tầm bắn dao động từ 20 đến 70/90 km. Tốc độ bắn 12 đạn trong 38 giây, thời gian tái nạp hết 20 phút.
9A52-4 Tornado
9A52-4 Tornado là hệ thống pháo phản lực phóng loạt mới nhất của Nga, nó được công bố lần đầu vào năm 2007 và mới chính thức được chấp nhận đưa vào phục vụ từ năm ngoái.
Tornado được xem như là biến thể nhẹ và tổng quát của BM-30 Smerch (9A52-2), kết cấu gồm khung gầm xe cơ sở KamAZ-63501 8x8, trên đó có thể lắp đặt các giàn phóng rocket của hệ thống BM-21 Grad, BM-27 Uragan hay BM-30 Smerch, cụ thể gồm:
- 9A53-G Tornado mang giàn phóng 2x15 hoặc 1x40 cỡ 122 mm trên khung gầm xe tải Kamaz hoặc Ural-4320.
- 9A53-U Tornado mang giàn phóng 2x6 hoặc 2x8 cỡ 220 mm trên khung gầm xe MZKT-79306.
- 9A53-S Tornado mang giàn phóng 2x4 hoặc 2x8 cỡ 300 mm trên khung gầm xe MZKT-79306.
Mặc dù không nổi tiếng như tuần dương hạm hạt nhân Kirov nhưng 6 lớp tàu tuần dương thông thường khác của Hải quân Liên Xô cũng có sức mạnh rất đáng gờm.
Bài viết dưới đây xin giới thiệu sơ lược với độc giả về 6 lớp tuần dương hạm thông thường được đóng cho Hải quân Liên Xô tính từ thời điểm sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Những "Tuần dương hạm hạng nặng mang máy bay" theo cách gọi của Liên Xô (mà thực chất chính là tàu sân bay) sẽ được đề cập tới trong một dịp khác.
Tuần dương hạm Đô đốc Ushakov lớp Sverdlov
1. Tuần dương hạm lớp Sverdlov
Sverdlov - Dự án 68bis là lớp tuần dương hạm thông thường cuối cùng của Hải quân Liên Xô được đóng trong giai đoạn những năm 1950, thiết kế của chúng dựa trên các khái niệm và ý tưởng lạc hậu có từ thời kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ hai.
Trong kỷ nguyên của tàu sân bay và tên lửa hành trình đối hạm, các tàu tuần dương to lớn, nặng nề chỉ được trang bị pháo tỏ ra rất không phù hợp.
Do đó, tổng cộng chỉ có 14 chiếc lớp Sverdlov được hoàn thành trong số 30 chiếc đã lên kế hoạch đóng trước khi chương trình bị Nikita Khrushchev hủy bỏ.
Tuần dương hạm Mikhail Kutuzov lớp Sverdlov
Thông số kỹ thuật cơ bản: lượng giãn đầy tải 16.640 tấn; dài 210 m; rộng 22 m; mớn nước 6,9 m. Tàu được trang bị 6 động cơ hơi nước với tổng công suất 118.100 mã lực cho tốc độ tối đa 32 hải lý/h; tầm hoạt động 9.000 hải lý khi chạy ở tốc độ 18 hải lý/h; thủy thủ đoàn 1.250 người.
Vũ khí trang bị của lớp Sverdlov gồm 12 pháo 152 mm 57 cal B-38, 12 pháo 100 mm 56 cal M-1934, 37 pháo phòng không 37 mm và 10 ống phóng ngư lôi 533 mm.
Hiện nay chỉ còn duy nhất tuần dương hạm Mikhail Kutuzov đang được trưng bày tại Novorossiysk, những chiếc khác đã bị tháo dỡ.
Tuần dương hạm Đô đốc Golovko lớp Kynda
2. Tuần dương hạm lớp Kynda
Kynda - Dự án 58 hay đôi khi còn được gọi bằng cái tên Groznyy là lớp tuần dương hạm trang bị tên lửa điều khiển đầu tiên của Liên Xô. Chúng được thiết kế xoay quanh tên lửa hành trình đối hạm tầm xaSS-N-3 Shaddock.
Mặc dù được gọi là tuần dương hạm nhưng kích thước của Kynda không hơn khinh hạm là bao với chiều dài 142 m; rộng 15,8 m; mớn nước 5,3 m; lượng giãn nước đầy tải 5.500 tấn; thủy thủ đoàn 390 người. Tàu có sàn đáp trực thăng bố trí ở đuôi nhưng lại không có nhà chứa máy bay.
Các tuần dương hạm lớp Kynda được trang bị 4 nồi hơi và 2 turbine khí có tổng công suất 100.000 mã lực, cho phép chạy với tốc độ tối đa 34 hải lý/h; tầm hoạt động 2.000 hải lý khi chạy ở tốc độ 34 hải lý/h hoặc 7.000 hải lý với tốc độ 14,5 hải lý/h.
Tuần dương hạm Đô đốc Fokin lớp Kynda
Vũ khí chính của tuần dương hạm lớp Kynda là 16 tên lửa đối hạm SS-N-3 Shaddock bố trí trong 2 cụm 4 ống phóng (8 tên lửa trong ống phóng và 8 tên lửa dự trữ).
Ngoài ra, tàu còn được trang bị 16 tên lửa phòng không SA-N-1 Goabắn đi từ ray phóng đôi phía trước tàu, 2 pháo 76 mm nòng đôi, 4 pháo phòng không 30 mm, 2 bệ phóng rocket chống ngầm RBU-6000và 2 cụm 3 ống phóng ngư lôi 533 mm.
Các tuần dương hạm lớp Kynda đã sớm bị thay thế vai trò bởi lớp Kresta I tiên tiến hơn nhưng 4 chiếc được đóng vẫn tiếp tục phục vụ trong Hải quân Liên Xô cho tới khi Liên bang sụp đổ, cá biệt chiếc Đô đốc Golovko còn phục vụ tới tận năm 2002.
Tuần dương hạm Phó đô đốc Drozd lớp Kresta I
3. Tuần dương hạm lớp Kresta I
Tuần dương hạm Dự án 1134 Berkut (Đại bàng vàng) hay còn được biết đến với tên thông dụng hơn là Kresta I được thiết kế thiên về nhiệm vụ chống tàu mặt nước.
Ban đầu Liên Xô dự định trang bị cho Kresta I tên lửa hành trình đối hạm tầm xa thế hệ mới SS-N-12 Sandbox (P-500 Bazalt) nhưng do sự chậm trễ trong quá trình phát triển dẫn đến việc tên lửa SS-N-3 Shaddock vẫn được tin dùng
Mặc dù lớn hơn đáng kể cũng như có hiệu quả tác chiến và độ tin cậy cao hơn hẳn lớp tuần dương hạm Kynda thế hệ trước nhưng Kresta I chỉ mang theo được một nửa số ống phóng tên lửa SS-N-3 Shaddock và 1/4 tổng số tên lửa.
Tuần dương hạm Đô đốc Zozulya lớp Kresta I
Thông số kỹ thuật cơ bản của tuần dương hạm Kresta I: lượng giãn nước đầy tải 7.500 tấn; dài 159 m; rộng 17 m; mớn nước 6 m.
Hệ thống động lực gồm 2 động cơ turbine hơi nước công suất 91.000 - 100.000 shp cho tốc độ tối đa 34 hải lý/h; tầm hoạt động 10.500 hải lý ở tốc độ 14,5 hải lý/h; thủy thủ đoàn 343 - 360 người.
Vũ khí trang bị của Kresta I gồm: 2 cụm 2 ống phóng mang theo 4 tên lửa SS-N-3 Shaddock, 2 ray phóng đôi với 44 tên lửa phòng không SA-N-1 Goa, 2 pháo phòng không nòng đôi 57 mm AK-725, 2 cụm 5 ống phóng ngư lôi 533 mm.
Kresta I cũng là lớp tuần dương hạm đầu tiên của Liên Xô được thiết kế có sàn đáp và nhà chứa máy bay, cho phép mang theo 1 trực thăng săn ngầm Ka-25B “Hormone-B” trong khi thực hiện nhiệm vụ.
Có tổng cộng 4 chiếc tuần dương hạm lớp Kresta I được đóng trong giai đoạn 1964 - 1966, chúng đã lần lượt được cho nghỉ hưu vào các năm 1991 (2 chiếc), 1992 và 1994.
Tuần dương hạm Đô đốc Yumashev lớp Kresta II
4. Tuần dương hạm lớp Kresta II
Tuần dương hạm lớp Kresta II - Dự án 1134A Berkut A là biến thể dựa trên Kresta I với mục đích chuyển đổi nhiệm vụ từ chống hạm sang chống ngầm.
Có tất cả 10 chiếc Kresta II được đóng tại nhà máy Zhdanov, Leningrad trong giai đoạn 1966 - 1974, chúng nhanh chóng bị loại biên không lâu sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ.
Tuần dương hạm Vasily Chapaev lớp Kresta II
Kresta II có kích thước tương tự Kresta I với lượng giãn nước đầy tải 7.535 tấn; dài 159 m; rộng 17 m; mớn nước 6 m; thủy thủ đoàn 380 người.
Hệ thống động lực gồm 2 động cơ turbine hơi nước công suất 91.000 - 100.000 shp cho tốc độ tối đa 34 hải lý/h; tầm hoạt động 10.500 hải lý ở tốc độ 14,5 hải lý/h hoặc 5.200 hải lý khi chạy với tốc độ 18 hải lý/h.
Kresta II được trang bị hệ thống điện tử đồ sộ hơn Kresta I khá nhiều gồm radar trinh sát trên không MR-600 và MR-310; radar hàng hải Don và Volga; sonar MG-26, MG-35, MG-322; radar kiểm soát hỏa lực Grom của tên lửa phòng không, MR-103 của pháo AK-725 và Drakon RP-33.
Vũ khí chủ lực của các tuần dương hạm Dự án 1134A Kresta II là 8 tên lửa chống ngầm SS-N-14 Silex (2 cụm 4 ống phóng) thay vì tên lửa chống hạm SS-N-3 Shaddock. Ngoài ra tàu còn được trang bị tên lửa hạm đối không SA-N-3 thế hệ mới (72 tên lửa bắn đi từ 2 ray phóng đôi).
Vũ khí phụ gồm có 2 pháo AK-725 57 mm, 4 pháo phòng không bắn nhanh AK-630 30 mm, 10 ống phóng ngư lôi 533 mm (2 cụm 5 ống phóng) và 1 trực thăng chống ngầm Kamov Ka-25.
Tuần dương hạm Ochakov lớp Kara
5. Tuần dương hạm lớp Kara
Kara là tên định danh của NATO dành cho lớp tuần dương hạm mang tên lửa có điều khiển Dự án 1134B (Berkut B). Hải quân Liên Xô gọi nó một cách đơn giản là “Chiến hạm săn ngầm cỡ lớn” chứ không phải “Tuần dương hạm”.
Về cơ bản Kara chính là biến thể phóng to của tuần dương hạm lớp Kresta II với động cơ turbine khí thay cho động cơ hơi nước truyền thống. Lớp tàu chiến này thường đảm trách nhiệm vụ kỳ hạm với khả năng chỉ huy, điều khiển và giao tiếp được nâng cao.
Tuần dương hạm Kerch lớp Kara
Thông số kỹ thuật cơ bản: Lượng giãn nước đầy tải 9.700 tấn; dài 173,2 m; rộng 18,6 m; mớn nước 6,7 m. Tàu được trang bị 4 động cơ turbine khí công suất 120.000 mã lực cho tốc độ tối đa 34 hải lý/h; tầm hoạt động 9.000 hải lý; thủy thủ đoàn 380 người.
Để đảm trách chức năng chống ngầm, vũ khí chủ đạo của Kara là 8 tên lửa SS-N-14 Silex bố trí trong 2 cụm 4 ống phóng. Bên cạnh đó là 2 x 5 ống phóng ngư lôi PTA-53-1134B cỡ 533 mm và 4 bệ phóng rocket săn ngầm (2 RBU-6000 và 2 RBU-1000).
Ngoài săn ngầm, Kara còn có năng lực phòng không rất mạnh với 80 tên lửa tầm trung SA-N-3 Goblet và 40 tên lửa tầm ngắn SA-N-4 Gecko.
Đặc biệt, chiếc tuần dương hạm Azov còn được sử dụng làm tàu thử nghiệm hệ thống phòng không tầm xa SA-N-6 (phiên bản hải quân của S-300) với 24 tên lửa.
Vũ khí phụ gồm 2 pháo 76 mm nòng đôi AK-726, 4 pháo phòng không bắn nhanh AK-630 30 mm. Sàn đáp và nhà chứa máy bay ở đuôi tàu cho phép mang theo 1 trực thăng săn ngầm Ka-25 hoặc Ka-27.
Tổng cộng có 7 tuần dương hạm săn ngầm lớp Kara được đóng trong khoảng thời gian 1968 - 1975 tại nhà máy Mykolaiv bên bờ Biển Đen, hiện nay chỉ duy nhất chiếc Kerch còn hoạt động trong thành phần Hạm đội Biển Đen của Nga.
Tuần dương hạm Slava
Slava - Dự án 1164 Atlant là một lớp tuần dương hạm cỡ lớn được đóng cho Hải quân Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Hiện nay chúng vẫn là lớp tàu chiến có sức mạnh hàng đầu của Hải quân Nga cũng như trên thế giới.
Slava được thiết kế từ những năm 1960 xoay quanh tên lửa hành trình chống hạm tầm xa SS-N-12 Sandbox (P-500 Bazalt) với mục đích đảm trách vai trò kỳ hạm như một giải pháp kinh tế hơn so với tuần dương hạm hạt nhân lớp Kirov.
Tuy nhiên do có sự chậm trễ kéo dài trong việc thiết kế, trong khi các vấn đề với tên lửa P-500 đã được giải quyết từ lâu dẫn đến việc chiếc đầu tiên phải đến năm 1982 mới chính thức đi vào hoạt động.
Slava cũng được đóng tại nhà máy Mykolaiv, chúng gần như là phiên bản kéo dài phần thân của tuần dương hạm lớp Kara và 2 lớp tàu này cũng thường kết hợp với nhau trong chiến đấu.
Tuần dương hạm Moskva lớp Slava
Tuần dương hạm lớp Slava có kích thước khổng lồ với lượng giãn nước đầy tải 12.500 tấn; dài 186,4 m; rộng 20,6 m; mớn nước 8,4 m; thủy thủ đoàn 485 người (trong đó có 66 sĩ quan).
Tàu được trang bị hệ thống động lực kết hợp COGOG gồm động cơ turbine khí và động cơ turbine hơi nước với tổng công suất 130.000 mã lực, cho tốc độ tối đa 32 hải lý/h, tầm hoạt động 7.500 hải lý (12.100 km) khi chạy ở tốc độ 18 hải lý/h (33 km/h).
Hệ thống điện tử của Slava cũng thuộc hàng tinh vi và đồ sộ bậc nhất với radar kiểm soát đường không tầm xa MR-800 Voshkod/Top Pair 3D, MR-700 Fregat/Top Steer hoặc MR-710 Fregat-MA/Top Plate 3D.
Bên cạnh đó là radar kiểm soát hỏa lực Volna/Top Dome, MPZ-301 Baza/Pop Group của tên lửa phòng không và Argument/Front Door-C của tên lửa chống hạm.
Sonar tần số cao MG-332 Tigan-2T/Bull Nose và Platina/Horse Tail MF VDS của Slava có thể phát hiện và định vị cũng như cung cấp thông tin về các loại tàu ngầm, tầu nổi của đối phương trong phạm vi lên đến vài trăm hải lý.
Vũ khí của Slava rất toàn diện gồm 16 tên lửa chống hạm P-500 Bazalt, 8 bệ phóng thẳng đứng của tên lửa phòng không tầm xa SA-N-6 Grumble (S-300PMU) với 64 đạn, 2 ray phóng đôi của tên lửa phòng không tầm ngắn SA-N-4 Gecko (OSA-M).
Ngoài ra, trên tàu còn có 1 pháo 130 mm nòng kép AK-130, 6 pháo phòng không AK-630 30 mm, 2 bệ phóng rocket săn ngầm RBU-6000, 10 ống phóng ngư lôi 533 mm và 1 trực thăng săn ngầm loại Ka-27.
(Soha.vn) - Kh-35/3M24 Uran còn được gọi là Harpoonski vì giống tên lửa chống tàu AGM/RGM-84 Harpoon của Mỹ từ ý tưởng đến hình dạng và các đặc tính kỹ chiến thuật.
Thông số cơ bản của tên lửa Kh-35/3M24Uran (SS-N-25 Switchblade)
Dài: 3,85 m
Đường kính: 420 mm
Sải cánh: 930 mm
Tầm bắn: 130 km
Tốc độ: Mach 0,8
Đầu đạn: 145 kg HE
Trọng lượng phóng: 610 kg
Khí tài trang bị:
Tàu hộ vệ tên lửa dự án 1135.4-Krivak IV, dự án 1454-Neustrashimy, dự án 1166.1-Gepard; Tàu tên lửa cỡ nhỏ dự án 1241.8-Molniya và dự án 151A-Sassnitz.
Máy bay: Tu-142 Bear, MiG-29K Fulcrum, Su-27SKM Flanker, Su-32/34 Fullback và trực thăng Ka-27 Helix.
Nước sử dụng: Nga, Việt Nam, Ấn Độ và Algeria.
Theo một quyết định được đưa ra vào tháng 4/1984, OKB Zvezda bắt đầu tiến hành nghiên cứu chế tạo một loại tên lửa chống tàu đa năng thế hệ mới có thể phóng đi từ tàu mặt nước, máy bay hoặc từ xe phóng trên đất liền. Loại tên lửa này sau đó được định danh là Kh-35(phiên bản phóng từ máy bay) hay 3M24 (phiên bản phóng từ tàu chiến). Nó gần như là bản copy của tên lửa chống tàu AGM/RGM-84Harpoon khi giống từ ý tưởng đến hình dạng và các đặc tính kỹ chiến thuật.
Phiên bản phóng từ trên không Kh-35 có thể được bắn ở độ cao từ 200-5.000m và đạt tới tầm xa 150 km. Kh-35 được thiết kế để tấn công các tàu chiến nhỏ có tốc độ cao như tàu tên lửa, tàu phóng lôi của kẻ thù và cũng có thể sử dụng để tấn công tàu vận tải có lượng giãn nước lên đến 5.000 tấn. Đối tượng tác chiến của Kh-35 (3M24) Uran thường là những mục tiêu mà không yêu cầu phải triển khai các hệ thống tên lửa đối hạm tinh vi như Moskit hay Oniks, đó là lí do vì sao Kh-35 Uran có kích thước khá nhỏ và ít phức tạp. Đầu dò của tên lửa được tối ưu hóa cho việc tấn công những tàu xuồng có diện tích phản xạ radar thấp và tốc độ di chuyển cao. Tên lửa được trang bị một đầu đạn HE nhẹ có trọng lượng 145 kg mặc dù một vài nguồn khác cho rằng trọng lượng thực sự của đầu đạn chỉ là 90 kg.
Sơ đồ cấu tạo tên lửa Uran
Vào đầu những năm 1990, phiên bản phóng từ tàu chiến với ký hiệu 3M24 được thử nghiệm, tầm bắn tối đa của phiên bản này đạt 130 km, tên lửa sử dụng động cơ khỏi tốc nhiên liệu rắn và động cơ hành trình turbojet nhiên liệu lỏng. Ở giai đoạn hành trình, 3M24 bay ở độ cao 10-15m với tốc độ 280 m/s. Đến giai đoạn cuối, tên lửa hạ độ cao xuống rất thấp, chỉ cách mặt biển 3-5m và giữ nguyên tốc độ. Đầu dò radar chủ động ARGS-35 của tên lửa quét được ở góc phương vị từ -450 - +450, góc tà -200 - +100, tầm hoạt động tối đa đạt 20 km.
Tên lửa Uran được phóng đi từ bệ phóng tiêu chuẩn dạng containerKT-184 gồm 4 ống phóng hình trụ được đặt nghiêng so với thân tàu một góc 350 với các đường dẫn hướng gắn ở phía bên trong, hai đầu ống phóng được bịt bằng các nắp đậy và sẽ được mở ra khi chuẩn bị phóng. 4 bệ phóng KT-184 (16 tên lửa) đã được lắp đặt trên các tàu hộ vệ tên lửa cỡ nhỏ Molniya dự án 1241.8, những tàu này được xuất khẩu cho Việt Nam và chỉ có 1 chiếc cùng loại được Hải quân Nga dùng với mục đích thử nghiệm và huấn luyện thủy thủ nước ngoài.
Kiểu bố trí hệ 4 bệ phóng KT-184 cũng được nhìn thấy trên chiếc tàu hộ vệ tên lửa duy nhất của Nga thuộc dự án 1154 mang tên Neustrashimy được đưa vào phục vụ từ năm 1993 trong thành phần Hạm đội Baltic, tuy nhiên các bệ phóng thực ra chưa bao giờ được gắn lên. Ngoài ra, 2 chiếc tàu hộ vệ cũ thuộc dự án 1135 Krivark I gồm Legkiy và Pilkiy đã hiện đại hóa lên chuẩn “1135.2” cũng được trang bị 2 bệ phóng KT-184 gồm 8 ống phóng cho tên lửa 3M24 Uran. Trong suốt năm 2002, những tàu này chưa mang theo tên lửa trong những chuyến tuần tra mà đó chỉ là những ống phóng rỗng. Các tàu trên đều sử dụng radar MR-755 Fregat (NATO: Half Plate) cho việc trinh sát mục tiêu trên không, trên biển và radar Garpun-Bal (NATO: Plank Shave) để kiểm soát hỏa lực.
Radar Garpun-Bal có khả năng kết hợp và nhanh chóng chuyển đổi từ chế độ làm việc chủ động sang thụ động. Ở chế độ chủ động, radar hoạt động trên băng tần I/J, có thể xác định và theo dõi cùng lúc 150 mục tiêu, tầm hoạt động tối đa của radar ở chế độ này là 35-45 km. Kênh bị động sẽ tìm kiếm những tín hiệu dạng xung và sóng liên tục. Khi một tín hiệu được định vị, radar sẽ xác định đối tượng phát ra tín hiệu thù địch này thông qua thư viện gồm hơn 1.000 mẫu sẵn có, sau đó sẽ tiến hành đo đạc và tính toán các tham số mục tiêu. Tầm tối đa của kênh bị động lên tới trên 100 km phụ thuộc vào tần số.
Tàu hộ vệ tên lửa Neustrashimy dự án 1154
Ngoài Việt Nam, một khách hàng khác của hệ thống tên lửa Uran là hải quân Ấn Độ với 4 chiếc khu trục hạm lớp Delhi được vũ trang 16 ống phóng mỗi chiếc. Những tàu này cũng được trang bị radar MR-755 Fregat và Garpun-Bal. Một loại chiến hạm khác của Ấn Độ sử dụng 3M24 Uran là 4 chiếc tàu tuần tiễu P-25A Kora với 4 bệ phóng KT-184 mang theo 16 đạn tên lửa.
Khu trục hạm lớp Delhi
Bên cạnh phiên bản tên lửa đối hạm, một phiên bản tên lửa hành trình tấn công mặt đất phóng từ tàu mặt nước sử dụng hệ thống dẫn đườngGlonass cũng đã được phát triển với tên gọi 3M24M Uranium(3M24E1 dành cho xuất khẩu). Tên lửa 3M24E1 dự kiến sẽ đi vào phục vụ trong Hải quân Ấn Độ. Để đáp ứng nhiệm vụ mới phần thân của tên lửa được kéo dài để mang theo nhiều nhiên liệu hơn, nhờ vậy tầm bắn tối đa tăng lên tới 250 km.
Khác với Uran, Uranium được lắp một đầu dò sử dụng công nghệ ảnh hồng ngoại tại vị trí của radar chủ động (có một báo cáo cho rằng đầu dò hồng ngoại này cũng đã được thử nghiệm lắp đặt trên tên lửa đối hạm 3M24). Phiên bản tên lửa hành trình không đối đất trang bị cho máy bay được định danh Kh-37 có thêm biến thể dẫn đường bằng TV so với chỉ sử dụng đầu dò hồng ngoại như trên 3M24M.