Quân đội nước nào sở hữu nhiều “rồng lửa” nhất ĐNA?

9:29 AM |

(Kiến Thức) - Xét tới lực lượng tên lửa phòng không ở Đông Nam Á, Việt Nam được xem là quốc gia sở hữu nhiều "rồng lửa" nhất khu vực.


Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đầu tư khá ít cho lực lượng phòng không (kể cả Singapore và Indonesia). Các lực lượng các nước này hầu như chỉ trang bị một số ít tên lửa phòng không tầm thấp, tầm trung. Vì vậy, nếu xét về sức mạnh và số lượng kiểu loại thì Việt Nam là quốc gia trang bị nhiều “rồng lửa” nhất khu vực (7 loại).
Đầu tiên là hệ thống tên lửa phòng không tầm cao S-75 Dvina (Nga sản xuất). Loại tên lửa này đã được quân đội ta hiện đại hóa lên chuẩn S-75M3 mạnh hơn tăng tầm bắn tới 60km, độ cao diệt mục tiêu 27km. Trong ảnh là “rồng lửa” S-75M3 rời bệ phóng trong cuộc diễn tập bắn đạn thật của Quân chủng Phòng không – Không quân.
Thứ 2 là hệ thống tên lửa phòng không tầm trung – xa S-125 Pechora (Nga sản xuất). Một số đơn vị S-125 cũng đã được quân đội ta hiện đại hóa lên chuẩn S-125-2TM có những sự cải tiến đáng kể về radar, đạn tên lửa, khả năng triển khai thu hồi nhanh.
Hệ thống S-125-2TM hiện đại hóa có khả năng diệt mục tiêu ở tầm 35km, tầm cao đạt 25km. Thậm chí, hệ thống có khả năng đánh chặn tên lửa hành trình với độ chính xác tới 80%. Trong ảnh là đạn tên lửa S-125-2TM rời bệ phóng tấn công mục tiêu trong diễn tập ở trường bắn TB1.
Thứ 3 là hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp tự hành 9K35 Strela 10 mà ta nhận được từ Liên Xô trong giai đoạn 1985-1986 (20 bệ phóng và 500 đạn). Hiện nay, cũng có thể chúng ta đã tự làm chủ công nghệ sản xuất đạn cho loại tên lửa này.
9K35 Strela 10 đạt tầm bắn xa đến 5km, độ cao diệt mục tiêu từ 10m tới 3.500m.
Thứ 4 là tổ hợp tên lửa phòng không vác vai tầm thấp 9K32 Strela 2 được viện trợ cho Việt Nam từ năm 1972 (quân đội ta định danh là A72). Chúng ta có thể đã tự sản xuất được loại vũ khí phòng không hiệu quả này.
Tên lửa 9K32 Strela 2 đạt tầm bắn xa đến 4,2km, độ cao diệt mục tiêu từ 50m tới 2,3km.
Thứ 5 là tổ hợp tên lửa phòng không vác vai tầm thấp 9K38 Igla có thể diệt mục tiêu ở cự ly xa đến 5,2km, tầm cao 3,5km. Ảnh minh họa nước ngoài.
Thứ 6 là hệ thống tên lửa phòng không tầm trung 2K12 Kub (Việt Nam nhận được 10 hệ thống cùng 600 quả đạn giai đoạn 1979-1980). Đạn tên lửa của 2K12 Kub có thể diệt mục tiêu ở tầm xa đến 24km, độ cao diệt mục tiêu từ 50m tới 12km. Ảnh minh họa nước ngoài.
“Khủng nhất” trong lực lượng phòng không Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung là hệ thống tên lửa tầm cao S-300 PMU-1. Việt Nam có trong biên chế 2 tiểu đoàn tên lửa loại này ở miền Bắc và miền Nam.
S-300 PMU-1 được thiết kế để tiêu diệt mọi mục tiêu đường không (máy bay, trực thăng, UAV, tên lửa hành trình và thậm chí là tên lửa đạn đạo). Trong ảnh là đài radar chiếu xạ và điều khiển hỏa lực 30N6E có thể theo dõi cùng lúc 12 mục tiêu và dẫn bắn tên lửa hạ 6 mục tiêu cùng lúc.
Bệ phóng di động của S-3000 PMU-1 lắp 4 ống phóng tên lửa đạt tầm bắn xa tới 150km, độ cao từ 5m tới 27km.
Trong ảnh là đạn tên lửa hệ thống S-300 rời bệ phóng di động. Ảnh minh họa nước ngoài.
Hoàng Lê_Cập nhật lúc: 06:01 13/06/2013
http://kienthuc.net.vn/vu-khi/quan-doi-nuoc-nao-so-huu-nhieu-rong-lua-nhat-dna-237134.html

Điều chưa biết về tổ hợp tên lửa 2K12 Kub Việt Nam (2)

9:09 PM |
(Kiến Thức) - Tổ hợp tên lửa phòng không 2K12 Kub từng khiến Mỹ và Israel phải khiếp vía trong cuộc chiến Yom Kippur 1973, khi bắn hạ tới gần một nửa máy bay Không quân Israel.

Ở phần hai, Kiến Thức tiếp tục giới thiệu tới độc giả các thành phần chính của tổ hợp tên lửa phòng không 2K12 Kub Việt Nam có trong trang bị.

Hệ thống radar 1S91 SURN (Straight Flush).
Hệ thống radar trinh sát và dẫn bắn tự hành 1S91 SURN

Hệ thống radar tự hành trinh sát và dẫn bắn 1S91 SURN có nhiệm vụ phát hiện, theo dõi, xác định tọa độ và quốc gia sở hữu mục tiêu, đồng thời chiếu xạ một cách liên tục. Có thể xem, đây là "trái tim" của tổ hợp tên lửa 2K12 Kub (SA-6).

Để làm việc này và các nhiệm vụ khác, trong thành phần của đài 1S91 có: radar phát hiện mục tiêu (SOTs 1S11) và radar theo dõi mục tiêu (SSTs 1S31), máy ngắm quang học – vô tuyến, hệ thống truyền thông tin và mã hóa thông tin vô tuyến với thiết bị phóng tự hành, nguồn tiếp điện tự động (máy phát điện turbine khí), hệ thống nâng/hạ antenna. 

Các antenna của đài radar được bố trí hai tầng (phía trên là radar 1S31, phía dưới là radar 1S11) và có thể quay theo góc phương vị độc lập với nhau. Để giảm chiều cao của thiết bị trinh sát và dẫn bắn tự hành trong khi hành quân, bệ cơ sở hình trụ của các thiết bị antenna được thu vào trong thân xe chạy bằng băng xích, còn anten SSTs 1S31 quay xuống và được bố trí phía sau đài ra đa phát hiện mục tiêu. 

Khối lượng của hệ thống 1S91 SURN với toàn bộ các trang thiết bị bố trí trên gầm xe chạy xích GM-58 với kíp chiến đấu 4 người.

Vậy tính năng của hai đài radar trong thành phần hệ thống có gì?

- Đài radar định vị phát hiện mục tiêu SOTs 1S11

Nó được sử dụng để phát hiện và nhận dạng xuất xứ của mục tiêu trong phạm vi từ 3-70km theo tầm xa và 30m đến 7.000 m theo độ cao, đồng thời cung cấp các thông số khác về chúng. Đài radar nhìn vòng có tốc độ quay 15 vòng/ phút, băng sóng cm với hai kênh truyền tải – nhận/thu sóng độc lập và antenna có hình dạng chảo. 

Khi công suất xung động của bức xạ đạt 600kW trong mỗi kênh, chiều rộng các tia của chúng theo góc phương vị gần 1 độ, còn phạm vi quan sát hình quạt theo góc cao là khoảng 20 độ. Khả năng kháng nhiễu của đài radar phát hiện mục tiêu 1S11 được bảo đảm bằng hệ thống chọn lọc các mục tiêu đang hoạt động (SDTs) và áp lực của các dải nhiễu không đồng bộ, sự tăng cường kênh thu được thực hiện bằng tay, bằng sự điều biến tần số lặp lại của các xung động và sự điều hưởng lại các tần số của máy phát sóng.

Đài radar định vị theo dõi mục tiêu 1S31 (dưới) và radar định vị phát hiện mục tiêu SOTs 1S11 (trên).
- Đài radar định vị theo dõi mục tiêu 1S31
Đài 1S31 theo số liệu của trung tâm điều khiển từ đài radar theo dõi mục tiêu với xác suất 0,9 bảo đảm bám bắt, lựa chọn theo dõi mục tiêu dạng máy bay tiêm kích bom F-4 Phantom ở tầm xa 50km, đồng thời chiếu xạ mục tiêu cho đạn tên lửa 3M9 bằng sự phát xạ liên tục. 

Đài radar định vị có hai kênh độc lập, các bộ nguồn bức xạ được lắp đặt trong mặt phẳng của kính phản xạ dạng parabol của antenna tổng thể theo dõi và chiếu xạ mục tiêu.

Khi công suất xung động theo kênh theo dõi mục tiêu đạt 270kW, chiều rộng của tia gần 1 độ, sai số bình quân theo dõi mục tiêu theo các góc tọa độ gần 0,5 d.u và 10m theo tầm xa. Khả năng bảo vệ đài radar theo dõi mục tiêu khỏi các dải nhiễu thụ động và phản xạ từ mặt đất được thực hiện bằng hệ thống chọn lọc mục tiêu đang hoạt động, còn với các dải nhiễu vô tuyến điện – sử dụng phương pháp định vị xung đơn của mục tiêu, hệ thống chỉ thị mục tiêu và điều hướng lại bằng tần số hoạt động. 

Khi đài radar theo dõi mục tiêu bị chế áp bởi các dải nhiễu vô tuyến điện, sự theo dõi mục tiêu theo các góc tọa độ được thực hiện bằng máy ngắm quang học – vô tuyến, còn theo tầm xa được thực hiện bằng radar phát hiện mục tiêu 1S11.

Xe phóng tự hành 2P25.
Xe phóng tự hành 2P25

Xe phóng 2P25 trên cơ sở khung gầm bánh xích đa năng GM-578 phục vụ cho việc vận chuyển và phóng 3 đạn 3M9. Sự dẫn hướng sơ bộ với các tên lửa tới mục tiêu được thực hiện theo số liệu của hệ thống radar trinh sát dẫn bắn tự hành 1S91 SURN, sau khi thực hiện khả năng chống nhiễu và thông tin mã hóa vô tuyến. 

Để thực hiện các chức năng của mình, thiết bị phóng tự hành được trang bị các thiết bị truyền động lực tự động hóa bằng điện, thiết bị tính toán các khí tài thông tin và dẫn đường, nguồn điện được cung cấp từ máy phát turbine khí. Trong trạng thái vận chuyển, các tên lửa trên thiết bị phóng được bố trí ở tư thế nằm ngang với bộ phận đuôi hướng ra phía trước theo hướng di chuyển của thiết bị phóng, khối lượng thiết bị phóng với 3 quả tên lửa phòng không 3M9 và kíp xe 3 người là 19,5 tấn.

Mô hình tên lửa 3M9 với mặt cắt hiển thị các thiết bị bên trong.
Tên lửa phòng không 3M9

Tên lửa phòng không có điều khiển 3M9 hoạt động bằng nhiên liệu rắn như đạn 9M8 của tổ hợp tên lửa phòng không 2K11 Krug, được thiết kế theo sơ đồ khí động học “cánh quay” với động cơ tên lửa hỗn hợp và đầu đạn tự dẫn đường bán chủ động bằng radar định vị. 

Trong sự khác biệt với 9M8, để tăng cường sự cơ động, bộ phận cân bằng của 3M9 có cánh lái, giảm kích thước của cánh quay và bảo đảm sử dụng thiết bị truyền động khí nén nhẹ hơn. 

Đầu đạn tự dẫn đường bán chủ động bằng radar 1SB4 bảo đảm bám bắt mục tiêu đã được lựa chọn từ khi khởi động và theo dõi nó đến thời điểm đầu đạn nổ. Trong các điều kiện phải đối phó với các tên lửa chống radar của đối phương như kiểu AGM-45 Shrike, việc bám bắt mục tiêu của đầu đạn tự dẫn đường của tên lửa có thể thực hiện trên không sau khi khởi động. 

Để bắn cháy mục tiêu, với khả năng chịu quá tải lên đến 8G, tên lửa được trang bị đầu đạn nổ - nổ mảnh (3N12, khối lượng 57kg), khi nổ tạo thành 3.150 mảnh. Đầu đạn tên lửa nổ theo lệnh của ngòi nổ vô tuyến hai kênh bức xạ liên tục.

 Radar xung doppler 1SB4.
Đầu đạn nổ mảnh 3N12.
Thiết bị động cơ hỗn hợp nhiên liệu rắn hai tầng được thiết kế theo cấu tạo khác thường. Tầng đầu tiên (tầng khởi động) sử dụng nhiên liệu rắn trong hình dạng khối trụ (chiều dài: 1,7m, đường kính 290mm), với ống hình trụ từ nhiên liệu thuốc phóng không khói (VIK-2) khối lượng 172kg với mặt đáy bọc thép, được bố trí trong buồng đốt của tầng chính. Sau 3-6 giây, các công việc của bộ phận bên trong thiết bị vòi phun xảy ra với sự duy trì bằng lưới chất dẻo thủy tinh. 

Động cơ chính là buồng khí gas có dạng thùng với nhiên liệu được nạp sẵn. Các chất gây cháy được nạp của buồng khí được đẩy vào buồng đốt, nơi phần chất đốt được đốt trong dòng không khí, truyền qua bốn cửa thoát khí. Các thiết bị truyền vào với các vật trung tâm dạng hình nón được thiết kế trong chế độ hoạt động siêu âm. Và khi mở động cơ chính, chúng thoát ra khỏi các rãnh của bộ phận thoát khí tới buồng đốt được đóng bằng nắp chất dẻo thủy tinh.

Đạn 3M9 là tên lửa phòng không đầu tiên trên thế giới sử dụng thiết kế này và được tiếp nhận sản xuất hàng loạt trong biên chế lực lượng vũ trang. Sau khi bắt được một số tên lửa 3M9 trong thời gian chiến tranh Yom Kippur năm 1973, Israel đã sử dụng chúng trở thành nguyên mẫu để chế tạo hàng loạt tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm. Với chiều dài gần 5,8m và đường kính 330mm, khối lượng 630kg, đạn 3M9 được vận chuyển theo cặp với các đế cân bằng bên phải và bên trái trong container đặc biệt 9Ya266.


Thông số kỹ thuật tên lửa 3M9
Dài: 5.800mm
Đường kính: 330mm
Sải cánh: 1.245mm
Khối lượng trước khi phóng: 630kg
Khối lượng đầu nổ: 57kg
Tầm bắn: 6-22km
Trần bắn: 0,1-12km.

 2K12 Kvadrat của Iraq.
Chiến tích của 2K12 Kub
Thành công đầu tiên trong lịch sử của tổ hợp tên lửa phòng không 2K12 Kub là bắn rơi gần một nửa lực lượng Không quân Israel trong thời gian chiến tranh Yom Kippur năm 1973. Chỉ trong thời gian từ ngày 6 đến ngày 24/10, các tổ hợp 2K12 Kvadrat của Ai Cập đã bắn rơi 64 máy bay Israel bằng 95 quả tên lửa. Còn để tiêu diệt 6 máy bay trong thời gian từ ngày 8/4 đến ngày 30/5 năm 1974, chỉ cần 8 tên lửa. 

Các chuyên gia quân sự nước ngoài, trong đó có Mỹ đã chỉ ra rằng tổ hợp tên lửa phòng không này theo các khả năng tác chiến của nó vượt trội tổ hợp MIM-23 Hawk của Mỹ đã được hiện đại hóa và làm suy giảm một cách đáng kể hiệu quả lực lượng Không quân Israel, vốn sử dụng các máy bay do Mỹ và các nước NATO sản xuất. 

Đến cuối cuộc chiến tranh năm 1973, Israel đã mất gần 110 máy bay, về phía Ả rập: 40 hệ thống phòng không khác nhau, trong đó có các tổ hợp tên lửa phòng không 2K12 Kvadrat.

Ngoài cuộc chiến tranh Yom Kippur, bắt đầu từ năm 1972, các tổ hợp tên lửa phòng không Kub/Kvadrat cũng được sử dụng một cách linh hoạt trong các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang trong khu vực như cuộc chiến Lebanon lần thứ nhất năm 1982, chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, chiến tranh Nam Tư năm 1999 và nhiều nơi khác như xung đột biên giới Maroc – Algeria, đánh trả các cuộc tấn công của Không quân Mỹ ở Libya năm 1986, Chad năm 1986 – 1987 và trong một số hoạt động quân sự. 

Mặc dù đến đầu những năm 1980, tổ hợp này đã được mổ xẻ rất kỹ, cho phép phe tấn công có thể sử dụng những biện phát hiệu quả để làm suy yếu khả năng tác chiến. Nhưng trong mọi trường hợp, tổ hợp tên lửa phòng không 2K12 Kub/Kvadrat vẫn đóng vai trò hiệu quả hàng đầu trong việc trinh sát và bắn hạ mục tiêu.

Tri Năng_Cập nhật lúc: 06:00 11/05/2015
http://kienthuc.net.vn/vu-khi/dieu-chua-biet-ve-to-hop-ten-lua-2k12-kub-viet-nam-2-473526.html

Điều chưa biết về tổ hợp tên lửa 2K12 Kub Việt Nam (1)

8:57 PM |
(Kiến Thức) - Theo SIPRI, Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam trong giai đoạn 1979-1980 10 tổ hợp tên lửa phòng không 2K12 Kub cùng 600 quả đạn.

Tổ hợp tên lửa phòng không 2K12 Kub (NATO định danh SA-6 Gainful) là tổ hợp phòng không tầm trung cấp quân đoàn đầu tiên được sử dụng để bảo vệ các đơn vị của lục quân và công trình khi được bố trí tại các điểm phòng thủ và trong các cuộc tấn công khỏi sự đột kích của các phương tiện tấn công đường không như máy bay, trực thăng, máy bay cường kích, tên lửa hành trình của đối phương trong các điều kiện thời tiết tốt hoặc phức tạp với tốc độ của mục tiêu lên đến 600m/s.

Theo dữ liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockhom (SIPRI), trong giai đoạn 1979-1980, Việt Nam nhận được 10 tổ hợp tên lửa phòng không tầm trung 2K12 Kub cùng 600 quả đạn tên lửa 3M9.

Hãy cùng tìm hiểu quá trình phát triển và chi tiết tính năng của tổ hợp tên lửa 2K12 Kub:

Xe phóng tự hành 2P25 của tổ hợp 2K12 Kub.
2K12 Kub ra đời thế nào?

Quan điểm xây dựng hệ thống phòng không bố trí thành tuyến của Lục quân Liên Xô nhằm tăng cường khả năng phòng không tầm thấp bằng các mắt xích phòng không của cấp cao hơn. Các đơn vị trang bị tổ hợp tên lửa phòng không tầm trung 2K11 Krug (SA-4 Ganef) đầu tiên sau khi được sản xuất đã gia nhập các lữ đoàn phòng không quân phối thuộc cho quân đoàn và liên minh đoàn. 

Tuy nhiên, các mắt xích cấp dưới (sư đoàn xe tăng và cơ gới, sau đó là cấp cao hơn trung đoàn) được trang bị các tổ hợp pháo phòng không theo khả năng chống lại các thiết bị tấn công đường không bị thua thiệt rất nhiều và không bảo đảm yêu cầu về hiệu quả che chắn cho lục quân, đặc biệt là trên tuyến đầu tiên. 

Vì thế, hầu như đồng thời với tổ hợp tên lửa phòng không 2K11 Krug, việc chế tạo tổ hợp tên lửa phòng không tầm gần phối thuộc cho sư đoàn đã được bắt đầu. Đấy chính là tổ hợp tên lửa phòng không 2K12 Kub, sau đó được trang bị cơ bản cho các trung đoàn tên lửa phòng không trong các sư đoàn xe tăng. 

Công việc thiết kế tổ hợp được bắt đầu trên cơ sở quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Quốc phòng Liên bang Xô Viết từ ngày 18/7/1958, đã được xác định với những khả năng tác chiến cơ bản. 

Trong đó, tổ hợp tên lửa phòng không 2K12 Kub phải bảo đảm khả năng bắn hạ mục tiêu ở độ cao từ 60-1.200 m, tầm bắn từ 6-20km và 15km theo các tham số tương ứng được xác định với tốc độ 600m/s. Khi đó, xác suất trung bình bắn cháy mục tiêu như máy bay tiêm kích bom F-4 Phantom bằng một tên lửa không được thấp hơn 0,7 theo toàn bộ phạm vi hoạt động hiệu quả. Thời gian triển khai và thu gọn của tổ hợp không quá 5 phút.

Xe phóng tự hành 2P24 thuộc tổ hợp phòng không 2K11 Krug (SA-4 Ganef) với 2 quả tên lửa 9M8. 
Trong kế hoạch tổ chức và cung cấp liên quan đến việc chế tạo tổ hợp, nơi thiết kế chính được xác định là Phòng thiết kế thí nghiệm số 15 (sau đó là Viện nghiên cứu khoa học lắp ráp khí tài trang bị), tổng công trình sư V.V.Tikhomorov. 

Và thiết bị trinh sát tự hành, dẫn bắn và đầu đạn dẫn đường bán chủ động cho tên lửa dưới sự lãnh đạo của công trình sư A.A.Rastov và Yu.N.Vekhov (từ năm 1960 – I.G.Akonpyan) cũng được chế tạo ở đây. 

Tổng công trình sư của Phòng thiết kế đặc biệt số 203 (Phòng thí nghiệm quốc gia chế tạo máy cơ khí, sau đó là Viện Khoa học sản xuất Start) A.I.Yaskin phụ trách chế tạo thiết bị phóng tự hành, gầm xe hoạt động bằng xích – N.A.Astrov (Phòng thiết kế của xưởng chế tạo xe máy Mytishin), các tên lửa phòng không điều khiển – I.I.Toropov (Phòng thiết kế chế tạo xe máy quốc gia Fakel), sau đó là A.L.Lyapin.

Dẫu vậy, việc chế tạo tổ hợp của các nhà thiết kế Liên Xô đã trải qua những khó khăn lớn. Sự cần thiết phải giải quyết hàng loạt các vấn đề lớn và câu hỏi đã tiêu tốn trong các thí nghiệm cấp quốc gia gần 5 năm – nhiều hơn 2 năm so với thử nghiệm tổ hợp tên lửa phòng không 2K11 Krug đang được triển khai một cách song song. Nhiều khó khăn nảy sinh với sự cần thiết trong việc giải quyết hàng loạt vấn đề kỹ thuật khó khăn và phức tạp đương thời, đồng thời yêu cầu cao – đã được chỉ định trong tính năng cơ bản của tổ hợp. 

Vấn đề phức tạp nhất của quá trình chế tạo là độ tin cậy và an toàn trong khai thác sử dụng với những tính năng chiến đấu trên trọng lượng và kích thước của tên lửa. Theo nhiệm vụ đặt ra, tên lửa phải có hàng loạt điểm đặc biệt (đầu đạn có dẫn đường bằng đầu dò Doppler bán chủ động, động cơ chính sử dụng kiểu phản lực thẳng dòng (ramjet) có tốc độ siêu âm sử dụng nhiên liệu rắn, không có các máy gia tốc (tầng phóng khởi động) và đấy là tên lửa phòng không đầu tiên của Liên Xô không cần tới các tầng phóng khởi động.

Sự xuất hiện của chúng trong quá trình làm việc và sự cần thiết phải giải quyết đã dẫn tới việc phá vỡ thời gian hoàn thành công việc. Trong số các nguyên nhân như buồng đốt của động cơ chính và kích thước quá lớn sau khi bắt đầu mở cánh đuôi, các nhược điểm trong quá trình hoạt động của đầu đạn tự dẫn đường, thiết kế cửa thoát khí không thành công. 

Việc thay thế hàng loạt các tổng công trình sư (năm 1961, I.I. Toropov thay cho A.L.Lyapin, năm 1962, Yu.N.Figurovski được thay bằng V.V.Tikhomirov) không đẩy nhanh tiến độ công việc. Đầu năm 1963, chỉ có 3 lần phòng tên lửa với đầu đạn tự dẫn đường trong số 11 lần phóng được thừa nhận thành công (tổng cộng trong các thí nghiệm đã phóng 83 tên lửa). Do độ tin cậy thấp của các đầu đạn tự dẫn đường thí nghiệm nên tháng 9/1963, sau 13 lần phóng không thành công, các cuộc thí nghiệm tên lửa đã có bị gián đoạn. Ngoài ra, việc thược hiện chương trình thí nghiệm động cơ chính của tên lửa đã không diễn ra. 

Chỉ vào tháng 4/1964, lần phóng thành công đầu tiên với đầu đạn trong khi sự hoàn chỉnh các yếu tố của tổ hợp tên lửa phòng không trên mặt đất bằng các thiết bị thông tin và trang bị khác chưa hoàn thiện. Khi đó, máy bay mục tiêu Il-28 đã bị bắn rơi ở độ cao trung bình. Các lần phóng thử tiếp theo, về cơ bản được coi là thành công và sự dẫn bắn thiết bị tên lửa phòng không tới mục tiêu đạt yêu cầu.

Vấn đề phức tạp đã được giải quyết, cũng như việc bố trí trạm radar phát hiện mục tiêu và dẫn bắn cho tên lửa trong tổ hợp bởi một thiết bị trinh sát tự hành và dẫn bắn trên gầm xe tự hành hoạt động bằng xích có khối lượng nhẹ hơn, tương tự như gầm xe pháo phòng không tự hành ZSU-23-4 Shilka.
Các thí nghiệm cấp quốc gia của tổ hợp đã diễn ra từ tháng 1/1965 đến tháng 6/1966 tại trường bắn Donguzsk và kết thúc một cách thành công. Theo những kết quả này, từ ngày 23/1/1967, tổ hợp đã được tiếp nhận vào biên chế trang bị của các lực lượng .ục quân và gia nhập vào biên chế các trung đoàn tên lửa phòng không của các sư đoàn. 

Tổ hợp nhận tên gọi là Kub (bản xuất khẩu có tên là Kvadrat), mã GRAU (Tổng cục Pháo binh - Tên lửa Bộ Quốc phòng Liên bang) là 2K12, NATO đặt tên là SA-6 Gainful.

Tổ hợp phòng không 2K12 Kvadrat của Ai Cập trong chiến tranh Yom Kippur 1973.
Cấu hình tiêu chuẩn 1 tổ hợp tên lửa 2K12 Kub:

Hệ thống trinh sát và dẫn bắn tự hành 1S91 SURN (Straight Flush).
4 xe mang phóng tự hành 2P25.
30 tên lửa phòng không tầm trung dẫn đường bằng radar bán chủ động 3M9. Ảnh: tên lửa 3M9 trên xe phóng tự hành 2P25.
2 xe nạp đạn tự hành 2T7.
Hai xe đầu kéo mang 6 quả đạn dự trữ 9T227. Ảnh: Xe đầu kéo 9T227.
Xe cần cẩu 9T31, có nhiệm vụ dỡ/lắp đạn 3M9 ra/vào xe 9T227
Xe trinh sát trận địa BTR-60PB.
Xe chuyển tiếp radio 9S41.
Xe kiểm tra/ thử nghiệm tên lửa 2V8.
Xe chuẩn bị cho tên lửa MS-1760. Xe này được dùng như xe chuẩn bị kỹ thuật cho tên lửa phóng và mang theo 6 bộ giá đẩy kéo 9T14. 
 Giá xe kéo đẩy tên lửa 9T14.
Xe chở khí nén cho tên lửa 9G22. Xe được lắp trên khung gầm Zil-131. Xe dùng để vận chuyển khí nén cho tên lửa 3M9. Cấu trúc thượng tầng giúp xe mang đến 10 thùng chứa khí nén, mỗi thùng có thể tích là 10 lít. Trọng lượng toàn bộ xe là 9.75 tấn. 
Trạm nén khí UKS-400. Xe này lắp trên khung gầm xe Zil-157 với nhiệm vụ bom khí nén vào các thùng chứa của xe 9G22.
Một xe sửa chữa, bảo trì 2V7 cho xe 1S91, 2P25. Ảnh: Xe sửa chữa, bảo trì 2V7.
Radar cảnh giới tự hành P-40 (1S12 Long Track).
Một hệ thống radar phân biệt bạn-thù 1L22 Parol.
Một hệ thống radar nhìn vòng bắt thấp P-15 Flat Face.
Một hệ thống radar đo cao PRV-16 Thin Skin.
Tri Năng_Cập nhật lúc: 06:00 10/05/2015
http://kienthuc.net.vn/vu-khi/dieu-chua-biet-ve-to-hop-ten-lua-2k12-kub-viet-nam-1-472810.html

Nâng sức mạnh “thần chết” SA-6 của Việt Nam

7:39 PM |

(Kiến Thức) - Một số quốc gia đã đưa ra chương trình nâng cấp sức mạnh cho tên lửa phòng không tầm trung 2K12 Kub (SA-6).



Các gói nâng cấp của Nga và Cộng hòa Czech trang bị đạn tên lửa có tầm bắn xa đến 35km, tầm cao 20km (khi chưa nâng cấp là 24 và 14km)
2K12 Kub (NATO định danh là SA-6) là một trong những thành phần quan trọng trong lưới phòng không tầm trung bảo vệ bầu trời tổ quốc Việt Nam. 2K12 Kub có khả năng tiêu diệt các mục tiêu ở cự ly từ 4-24km với tầm cao từ 50-14.000m.


Tuy nhiên, được chế tạo theo công nghệ những năm 1960 nên 2K12 Kubbộc lộ nhiều điểm yếu trong chiến tranh công nghệ cao hiện đại ngày nay.


Nhằm nâng cao sức mạnh cho “3 ngón tay thần chết” 2K12 Kub, một số quốc gia có nền công nghiệp quốc phòng tiên tiến (Nga, Hungary, Cộng hòa Czech) đã thực hiện một số chương trình nâng cấp. Các gói nâng cấp này tập trung chủ yếu hiện đại hóa hệ thống radar điều khiển hỏa lực 1S91.

2K12 Kvadrat (Nga)

Quốc gia khai sinh ra 2K12 Kub - Nga đã giới thiệu gói nâng cấp 2K12 Kvadrat giai đoạn 1 được thiết kế để bảo vệ các căn cứ quân sự, các khu vực quan trọng trước các cuộc tấn công tốc độ cao của các loại máy bay chiến thuật, trực thăng tấn công, tên lửa hành trình trong môi trường tác chiến điện tử mạnh. 

Trọng tâm của gói nâng cấp tập trung vào cải thiện radar điều khiển hỏa lực 1S91 với các tính năng gồm:

- Trang bị hệ thống chỉ thị mục tiêu kỹ thuật số, hệ thống phân loại và theo dõi mục tiêu (máy bay, trực thăng, tên lửa hành trình và các mục tiêu đường không khác), tăng cường khả năng kháng nhiễu của hệ thống.

- Mở rộng băng thông kênh CW chiếu rọi mục tiêu từ 6-12 kênh tần số, thay thế các đèn chân không bằng bóng bán dẫn, thay thế các thiết bị điện áp cao bằng các thiết bị điện áp thấp.

- Buồng điều khiển được trang bị màn hình hiển thị LCD đa chức năng tăng số lượng dữ liệu hiển thị và kéo dài tuổi thọ của hệ thống từ 10.000-15.000 giờ, giảm mức tiêu thụ điện năng.

Hệ thống sử dụng tên lửa đối không 3M9 đã qua nâng cấp đạt tầm bắn hiệu quả 35km, tầm cao 20km. 

Ngoài gói nâng cấp này, Nga còn phát triển một gói nâng cấp hiện đại hơn cả là Kub-M3. Tuy nhiên từ gói nâng cấp này lại rẽ nhánh ra thành sự phát triển của một hệ thống hoàn toàn mới được gọi là Buk (NATO định danh là SA-11 Gadfly).
Hệ thống tìm kiếm chỉ thị mục tiêu quang - hồng ngoại WZU-2 (dấu đỏ).
“Lắp mắt hồng ngoại cho 2K12”
Hungary đưa ra một gói nâng cấp khá thú vị, mặc dù nó không được đặt một tên riêng nhưng điểm nhấn của gói nâng cấp này là trang bị bổ sung thêm hệ thống tìm kiếm chỉ thị mục tiêu quang - hồng ngoại WZU-2 hoạt động bất kể ngày đêm. 

WZU-2 được lắp bên cạnh radar chiếu rọi mục tiêu 1S31 (thuộc đài điều khiển 1S91). Buồng điều khiển được bổ sung thêm màn hình hiển thị kỹ thuật số cung cấp các dữ liệu về mục tiêu do hệ thống quang - hồng ngoại thu được.
 
Buồng điều khiển với 2 màn hình kỹ thuật số.
Việc bổ sung thêm hệ thống chỉ thị mục tiêu quang - hồng ngoại mang lại khả năng tấn công mục tiêu trong điều kiện đêm tối hoặc trong trường hợp radar điều khiển hỏa lực bị gây nhiễu nặng.

Ngoài ra, các thành phần hệ thống (radar, tên lửa) của 2K12 Kub vẫn giữ nguyên. 

“Mắt thần” 1S91 có tên mới

Cộng hòa Czech cũng đưa ra một gói nâng cấp khác chủ yếu tập trung vào radar điều khiển hỏa lực. Gần như toàn bộ đài điều khiển hỏa lực 1S91 đã được nước này thiết kế lại, với cái tên dài hơn 1S91SURN CZ.

Toàn bộ các thành phần của hệ thống 1S91SURN CZ đều được chuyển sang sử dụng công nghệ bán dẫn, các tần số hoạt động đều được thay đổi. Hệ thống hoạt động dựa trên nền tảng kỹ thuật số hoàn toàn trong phát hiện, bám bắt và chiếu xạ mục tiêu dẫn hướng cho tên lửa.

Buồng điều khiển rất hiện đại với 2 màn hình hiển thị kỹ thuật số cung cấp đầy đủ các tham số về mục tiêu. Ê kíp chiến đấu giảm xuống chỉ còn 3 người. 

Hệ thống sau nâng cấp sử dụng đạn tên lửa đối không 3M9M với tầm bắn tăng lên 35km, tầm cao 20km.

Bình Đức_Cập nhật lúc: 06:30 28/05/2013
http://kienthuc.net.vn/vu-khi/nang-suc-manh-than-chet-sa-6-cua-viet-nam-233210.html

Thực hư việc Việt Nam có “ba ngón tay thần chết” SA-6

6:20 PM |
(Kiến Thức) - Nguồn tin SIPRI cho rằng Việt Nam đã nhận được 10 tổ hợp tên lửa phòng không SA-6 từ Liên Xô, nhưng chưa bao giờ có bức ảnh nào chứng minh việc này. 

Theo dữ liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockhom (SIPRI), trong giai đoạn 1979-1980, Việt Nam nhận được từ Liên Xô 10 tổ hợp tên lửa phòng không SA-6 cùng 600 quả đạn tên lửa 3M9. Vậy thực hư việc này thế nào, tại sao suốt một thời gian dài tới tận hôm nay không có lấy một hình ảnh nào chứng minh việc SA-6 có trong trang bị QĐND Việt Nam dù hiện chúng ta đã công bố các bức ảnh S-300 tối tân hơn nhiều so với SA-6.
SA-6 hay có tên thật là tổ hợp tên lửa 2K12 Kub do Liên Xô sản xuất, được biết đến hay là nổi tiếng nhất kể từ cuộc chiến tranh Yom Kippur 1973. Khi đó, các tổ hợp 2K12 của Ai Cập đã bắn rơi 65 máy bay chiến đấu của Israel chỉ trong vài ngày. Sự đáng sợ của 2K12 Kub đã khiến các phi công Israel đặt cho nó biệt danh "ba ngón tay của thần chết" khi họ trông thấy bệ phóng với 3 đạn tên lửa.
Một tổ hợp tên lửa thì gồm rất rất nhiều thành phần, nhưng tựu chung lại trên SA-6 chỉ là 2 phần chính: radar điều khiển hỏa lực và tên lửa cùng bệ phóng tự hành. Tổ hợp tên lửa SA-6 được theiets kế để tiêu diệt các mục tiêu bay thấp và trung bình với tầm bắn trung bình.
"Trái tim" của SA-6 - tổ hợp radar điều khiển hỏa lực 1S91 (NATO gọi là Straight Flush) có tầm hoạt động hoạt động 75 km và bắt đầu chiếu mục tiêu và điều khiển tên lửa ở tầm 28 km.
Đài radar này có thể điều khiển một hoặc hai tên lửa bay đến một mục tiêu cùng lúc. Ảnh: Không gian bên trong đài điều khiển hỏa lực 1S91 với các màn hình hiện sóng radar.
Tên lửa vào pha đầu được điều khiển bằng lệnh và pha cuối bằng radar bán chủ động (SARH) khi mục tiêu được chiếu rọi bởi đài 1S91.
Bệ phóng tự hành 2P25 đặt trên khung gầm xe bánh xích GM-568 với phần bệ phóng có thể xoay đổi hướng 360 độ. Trên bệ lắp ba ray phóng với các đạn tên lửa phòng không 3M9.
Xe tiếp đạn 2T7 đang đưa đạn vào bệ phóng 2P25 TEL.
Đạn tên lửa 3M9 của hệ thống tên lửa phòng không SA-6 mà SIPRI cho rằng Liên Xô cung cấp 600 quả cho Việt Nam có trọng lượng khoảng 600kg, dài 5,8m, đường kính thân 335mm. Tên lửa trang bị hai động cơ đẩy cho tầm bắn 24km, độ cao đánh chặn 12km, tốc độ hành trình Mach 2,8.
Trên đạn được trang bị radar bán chủ động 1SB4 sẽ thu sóng dội lại từ mục tiêu khi đài 1S91 chiếu rọi để tự đưa đạn tới mục tiêu. Thời điểm năm 1973, đầu đò chủ động là công nghệ mới và cực kỳ hiệu quả so với tổ hợp dẫn vô tuyến SA-2, SA-3.
Sau đầu dò là nơi đặt phần chiến đấu nổ phá mảnh nặng 59kg với ngòi nổ chạm và cận đích.
Nhìn chung, tên lửa phòng không SA-6 là một trong những loại tên lửa đất đối không cực kỳ lợi hại, đặc biệt xuất sắc của Liên Xô (cũ). Tuy nhiên, so với các thế hệ Buk, Patriot, S-300, S-400 hiện nay thì nó đã thua kém rất nhiều. Bên cạnh đó, các chiến đấu cơ hiện đại có khả năng gây nhiễu đài radar dẫn bắn cho SA-6, vô hiệu hóa được vũ khí này. Chính vì thế, không có lý do gì để nếu Việt Nam có mà lại không công bố SA-6.
Thế nên, có khả năng rất cao rằng thông tin Liên Xô cung cấp tên lửa SA-6 cho Việt Nam chỉ là dạng tin đồn. Bởi chẳng có lý do gì Việt Nam đã công bố việc sở hữu các hệ thống tên lửa SPYDER hay S-300 mà lại không công khai SA-6 – một loại vũ khí đã có tuổi đời gần nửa thế kỷ.
Hoàng Lê_Cập nhật lúc: 06:00 16/04/2016
http://kienthuc.net.vn/quan-su-viet-nam/thuc-hu-viec-viet-nam-co-ba-ngon-tay-than-chet-sa-6-666070.html